điêu khắc

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Văn Minh Ăn Của Người Việt : bàn về món ăn

 Đây là loạt bài tản luận về ăn và cách nấu các món ăn truyền thống Việt Nam. Người viết đã có dịp được ăn và được biết nấu một số món ăn truyền thống cổ truyền Việt Nam. Từ ngày tị nạn ở Mỹ, món ăn Việt đã gia giảm chế biến theo bản địa, và rồi nay nhờ đọc và tham khảo thêm các sách báo trong và ngoài nước nên mạnh dạn viết ra để chia xẻ cùng quý bạn gần xa, người viết mong nhận được những ý kiến phê bình bổ xung để đóng góp vào gia tài Văn Minh Ăn Của Người Việt



bàn về món ăn

món là một danh từ chỉ thứ, loại, khoản… và bao giờ cũng đầy đủ trọn vẹn trong một đơn vị, và nhiều nghĩa lý thú vị. Thí dụ: tiền chợ là một món / Trong bốn món ăn chơi thì cờ bạc và hút sách là món nguy hiểm nhất. Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:” tóc mây một món dao vàng chia hai”, thì chữ món có nghĩa là một lọn, một túm tóc. Trong khi câu: “mừng thầm được món bán buôn có lời”, chữ món lại có nghĩa là dịp, trường hợp, thứ hàng… Có một thứ món không nhất định, bất thình lình  lúc nào cũng sẵn là món bất thời, trong thơ Nguyễn Công Trứ: 

Món bất thời còn hãy lưng bầu
Khuếnh khoáng mấy ngọn rau cũng đủ 

tức là …món rượu!  Nhưng thông dụng nhất của chữ “món” là đi với chữ “ăn” thành món ăn, chỉ một thứ sẵn sàng để ăn. Ta có chữ thức ăn bao gồm các món ăn. Vậy thì cứ thư thả tìm hiểu món ăn là gì. Là các thứ đã được nấu nướng, hoặc dầm ướp cắt bổ để ta ăn. Việt Nam cũng như các nước khác có nhiều món ăn, từ giản dị đến cầu kỳ, từ quê mùa mộc mạc đến tân kỳ đô hội; từ quà sáng quà tối đến các món cơm trưa, cơm chiều, từ tiệc tùng đến cỗ bàn lễ tết…Các món ăn truyền thống từ rất lâu đời, các món ăn đặc sản từng vùng, các món ăn được sáng tạo theo cách riêng, hoặc các món ăn nhờ giao lưu văn hóa với nhiều nước trên thế giới mà pha trộn biến chế rất tài tình.
Trong cuốn Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính đã nhận định rằng: “Xét việc ăn uống của ta, cũng đủ các thứ   thịt cá, sơn hào hải vị, rau cỏ hoa quả, chẳng thiếu thức gì, song chỉ hiềm cách nấu nướng thì còn vụng nhiều lắm”( tr.338) Lời ấy có phần đúng, và có phần sai. Đúng là nếu cách nấu nướng vụng về thì nguyên liệu dù tươi ngon cũng kém ngon hoặc dở đi. Sai là vì tác giả không khảo cứu đến tường tận, không đi nhiều để có thể thưởng thức được các cách nấu nướng khéo léo đầy nghệ thuật của nhiều người, nhiều vùng khác nhau ở Việt Nam. Tác giả không thể lấy cái vụng trong nhà hay trong vùng mình ở để kết luận cho cả nước. Cũng như nhà văn Nguyễn Tuân chắc ít có dịp ăn phở ở nhiều nơi, nên chỉ tả bát phở của riêng mình, và cho rằng chỉ ăn phở chín quanh quẩn ở Hà Nội mới ngon; ông không biết chín tái nạm gầu gân sách bò viên…ở nhiều nơi trên đất nước có cái ngon, cái đẹp tuyệt khác, kể cả phở cu bò (ngầu pín), phở gà mà ông chê.
Gần đây (tháng 10/2011) hãng thông tấn CNN bình chọn món phở và gỏi cuốn là 2 trong 50 món ăn ngon của trái đất. Kể về lành, món ăn Việt xếp hạng 3 trên thế giới. Dĩ nhiên sự xếp hạng chỉ có tính tượng trưng, và chỉ có giá trị tương đối; nhưng nhìn vào thành phần cấu tạo các món ăn Việt ta sẽ không ngạc nhiên tại sao chúng lại ngon lành. Bởi vì các món ăn ngon đều do nguyên liệu, gia vị, và cách làm. Nguyên liệu tươi sống, gia vị dồi dào, cách làm nghệ thuật, chắc chắn có món ăn ngon. Cộng thêm nơi ăn ngon và người ăn ngon nữa là tuyệt vời. Riêng món phở mà CNN bình chọn, nhà thơ Tú Mỡ từng nói: 

“Phở bổ âm, bổ dương, bổ phế, thận, can, tì” 


và tuyên bố:

Sống trên đời, phở không ăn cũng dại”.

Câu này tương tự như gần đây người Âu Mỹ thích liệt kê các món phải ăn trước khi chết. Còn ca dao có câu về gỏi cuốn như sau:

Cầm cổ tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

Vậy thì rõ ràng món ăn liên quan đến thân tâm con người. Các thứ gia vị, nguyên liệu, và cách nấu nướng, nước nào cũng có; chỉ nhiều ít khác nhau, thói quen tập tục khác nhau, nên các món ăn ngon một cách khác nhau. Tôi nghĩ phần lớn, người ta ăn ngon theo thói quen từ khi còn trong bụng mẹ. Đến khi khôn lớn, từng nếm trải, hấp thụ các món ngon khác, vẫn không quên món riêng của mẹ cha, là món ăn hằng ngày.

Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà đã quen

Ta đã quen ăn thịt gia cầm còn sống, quen với rau cỏ còn tươi, với các loại gia vị không thể thiếu…

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

Tục ngữ : thịt không hành, canh không mắm; để nói về cái dở của món ăn, cái vụng của người nấu. Mỉa mai hơn như câu:

Đẹp như cái tép kho tương
Kho đi kho lại nó trương phềnh phềnh

Thịt không hành, thịt tanh ngoeo ngoẻo, canh không mắm nhạt nhẽo vô duyên. Vô duyên như tôm tép kho bằng tương; vô duyên hơn nữa là kho đi kho lại nhiều lần. Xa xôi và ý nghĩa như câu:

Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư

Cãi ở đây đồng nghĩa với cưỡng, là đối chọi, không nghe, không theo. Vế dưới có thể không phải là chân lý tuyệt đối; nhưng vế trên, nếu cá không ướp muối ngay thì chỉ ít giờ sau là bị ươn thối. Hơn nữa, được ướp muối, khi nấu thịt cá bao giờ cũng săn chắc và ngon ngọt hơn. Cho nên người nấu bếp phải nắm vững trong tay các loại gia vị rất đa dạng và phức tạp. Mục đích của gia vị là làm giảm mùi hôi tanh của nguyên liệu thịt cá, gọi là tẩy, khử; và làm tăng hương vị thơm ngon của nguyên liệu bằng cách phi, đốt, pha, kèm, nêm, ướp, tẩm, ủ…Tôi sẽ bàn ở đoạn khác về cách nấu nướng. Đây ta đang bàn về món ăn. Và tôi chợt nhớ bài ca dao mẹ tôi thường ru cho con ngủ, sau này bà chép gửi cho tôi:

Con cò là con cò con
Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà
Ăn từ bánh đúc, bánh đa
Củ từ, khoai nướng, cùng là cháo kê
Ăn rồi cắp nón ra về
Thấy hàng chả chó lại lê ngay vào
Chả này bà bán làm sao?
Ba đồng một cặp lẽ nào không mua
Nói dối rằng mua cho chồng
Đi đến cánh đồng ngả nón ra ăn
Ăn rồi đau quặn đau quăn
Thầy bói xem quẻ bảo cò ăn nem
Cha đời thầy bói nói ngoa
Nào ai ăn chả ăn nem bao giờ !


Thật là dí dỏm, thú vị, và phong phú về sinh hoạt ăn của người Việt ngày xưa. Con cò trong bài là hình ảnh người phụ nữ miền quê, con cò trong bài sau đây là con cò thật:

Con cò chết tối hôm qua
Có bẩy hột gạo với ba đồng tiền
Đồng nào mua trống mua kèn
Đồng nào mua mỡ đốt đèn thờ vong
Đồng nào mua mớ rau răm
Đem về thái nhỏ để băm thịt cò.

Qua bài thơ, không những ta được biết sự tôn trọng và công nhận con vật (cò) có linh hồn, đáng được tưởng niệm  (thờ vong) bằng đèn dầu mỡ; mà ta còn được biết cách nấu thịt cò phải có rau răm là gia vị chính. Món cò băm (chả cò) trộn rau răm hành tiêu nước mắm rồi vo viên đem chiên trong mỡ cho vàng xém. Đến như một bài thơ khác, mô tả tâm sự của chính con cò (là vật được ăn), nó muốn người ta phải nấu nướng nó đàng hoàng, và ăn một cách trịnh trọng:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm
Lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi vào
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Bài thơ mở ra bao nhiêu chân trời tư tưởng, nhưng ta sẽ không bàn ở đây. Ta chỉ bàn về món cò xáo măng. Xáo măng là một món hầm có nhiều nước với nguyên liệu động vật (thịt cò, thịt vịt, thịt gà…) và thực vật (măng tre, măng trúc) để ăn với bún (hoặc cả với cơm). Nước xáo (nước dùng) phải trong vắt, nếu nấu vụng, nước dùng đục ngầu thì phí cả thân cò! (làm đau lòng cò con là con vật sẽ được nấu sau này, khi lớn lên.)

Cá bống đi chợ Cầu Canh
Con tôm đi trước củ hành đi sau
Con cua lệch đệch theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua!

Đây là vài món canh: canh cá bống, canh tôm, canh cua; tất cả đều phải có hành là thứ gia vị căn bản; dĩ nhiên là có mắm tôm, nước mắm nữa chứ! (riêng cá bống và tôm còn phải có rau thì là). Nhưng ta để ý cái hoạt cảnh rộn ràng của các con vật và thực vật, chúng nó rất vui vẻ đi vào nồi canh. Riêng con cua vì bị giã ra, một cái chết không dịu dàng; nhưng vẫn hồn nhiên đến thật thà (lệch đệch theo hầu). Khi còn sống, các con vật đều có đời sống y như con người:

chiều chiều con quạ lợp nhà
con cu chẻ lạt, con gà đưa tranh
chèo bẻo nấu cơm nấu canh
chìa vôi đi chợ mua hành về nêm.

Hay:
 
Con cò, con vạc, con nông
Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò
Không không tôi đứng trên bờ
Mẹ con cái diệc đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin thì ông đi đôi
Mẹ con nhà nó còn ngồi đằng kia.

Các cảnh truyện của các con vật chính là phim hoạt họa bằng thơ của người Việt có từ xa xưa.
Trong cuốn Tự Vị Tiếng Miền Nam, tác giả Vương Hồng Sển tự hào mình là người Việt Nam, một dân tộc biết ăn uống thưởng thức các sinh vật do chính mình làm thịt. Thật là một quan niệm độc đáo và hữu lý. Ông Lê Quí Đôn viết trong cuốn Vân Đài Loại Ngữ: “Bảo rằng cái gì trời sinh là không phải để nuôi người, thì không được.” Ý ông muốn khẳng định rằng muôn loài vật trong trời đất là để phụng dưỡng con người. Cho nên con người ăn muôn loài vật là lẽ tự nhiên. Quan niệm này đi ngược với nhiều tôn giáo. Để dung hòa, mỗi khi làm thịt một sinh vật, người ta thường nói: ”thôi, để tao hóa kiếp cho mày!”. Có lẽ cũng để dung hòa tôn giáo mà người ta vừa “thờ vong” sinh vật, vừa nấu nướng cẩn trọng sạch sẽ trước khi trịnh trọng ăn.
Ta hãy thưởng thức thêm một bài thơ khác , và món ăn khác:

Cái cò cái vạc cái nông
Ba con cùng béo vặt lông con nào?
Vặt lông con vạc cho tao
Hành răm mắm muối bỏ vào mà thuôn.

Thật là thẳng thắn, không úp mở e dè gì cả. Thuôn là một loại món canh nấu nhanh, ăn nóng với rau sống, bún; gọi là bún thuôn. Món ăn này có thể nấu với thịt bò, nếu nấu với thịt heo thì thêm đậu phụ sống hoặc rán, đánh trứng làm riêu. Gần như món ăn nào cũng có thể ăn kèm rau sống, rau thơm các loại; đó là một đặc tính của người Việt. 
Rồi món ăn đi vào kỷ niệm, đi vào tâm sự riêng chung, đi vào lời hẹn câu hò:

Rủ nhau xuống biển mò cua
Về nhà nấu với me chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau

Hoặc:

Tay nâng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng phụ nhau

Và có những hoàn cảnh éo le như món ăn nấu không đúng công thức:

Tiếc cho con tôm rằn nấu với ngọn rau má
Tiếc cho con cá bống nấu với ngọn bí đao
Gặp nhau đây khôn hỏi lỡ chào
Hai tay nghiêng nón, nước mắt trào như mưa!




tường vũ anh thy

kỳ tới: bàn về cách làm thức ăn

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

Văn Minh Ăn Của Người Việt : bàn về chữ ăn



               Đây là loạt bài tản luận về ăn và cách nấu các món ăn truyền thống Việt Nam. Người viết đã có dịp được ăn và được biết nấu một số món ăn truyền thống cổ truyền Việt Nam. Từ ngày tị nạn ở Mỹ, món ăn Việt đã gia giảm chế biến theo bản địa, và rồi nay nhờ đọc và tham khảo thêm các sách báo trong và ngoài nước nên mạnh dạn viết ra để chia xẻ cùng quý bạn gần xa, người viết mong nhận được những ý kiến phê bình bổ xung để đóng góp vào gia tài Văn Minh Ăn Của Người Việt


 bàn về chữ ăn


Riêng chữ TẾT không thôi đã bao gồm  nhiều nghĩa lý (đọc bài Nguồn gốc & ý nghĩa Tết Trung Thu ) thêm chữ ăn vào thành ăn tết, thì thôi sẽ náo nức tưng bừng đầy đủ tất cả mọi sinh hoạt xã hội Việt Nam kéo dài ít nhất nửa tháng trước và nửa tháng sau Tết.

Có lẽ chữ ăn là chữ có nhiều nghĩa nhất, thông dụng nhất, và sinh động nhất trong ngôn ngữ Việt Nam. Cứ mở cuốn “Tục Ngữ Phong Dao” của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, ta đã thấy 181 câu có chữ ăn trong vần ăn, đó là chưa kể những câu rải rác trong gần 700 trang sách. Bạn cũng cứ mở bất cứ cuốn tự điển Viêt Nam nào, từ cuốn của Hội Khai Trí Tiến Đức xuất bản năm 1931, tới cuốn Tự Vị Tiếng Miền Nam của Vương Hồng Sển năm 1993, nhất là vào Google sẽ thấy nhiều tác giả nói về chữ ăn. Đúng như tác giả Lê Văn Siêu trong cuốn Văn Minh Việt Nam đã nhận rằng chữ ấy có muôn hình vạn trạng nghĩa lý.
Ăn, chữ thì giản dị, vậy mà nó đi với các chữ trước hoặc sau, lại có nghĩa bóng, nghĩa đen, nghĩa xa, nghĩa gần, nghĩa xuôi, nghĩa ngược. Chẳng hạn người Việt tị nạn sang Mỹ gọi là di dân hợp pháp, được hưởng trợ cấp xã hội, ta gọi là ăn trợ cấp. Bây giờ chính sách đổi mới, di dân dù hợp pháp cũng không được trợ cấp nữa, ta gọi là mất ăn. Nhưng nhờ bản tính, dè sẻn, chịu thương chịu khó dần dà dân tị nạn Việt Nam cũng ăn nên làm ra, không đến nỗi cơ khổ. Trong những trường hợp này, chữ ăn tuy không rắc rối bóng bẩy, nhưng cũng rất đặc biệt.
Ở đây ta chỉ bàn về chữ ăn (động từ) như một hành động đưa đồ ăn vào miệng rồi nhai nuốt xuống dạ dày. (Nói thế cũng sẽ có người bảo: bỏ đồ ăn vào miệng không nhất thiết phải nhai, chỉ cần nuốt; thí dụ: ăn cháo, ăn canh, ăn kem…; hoặc chỉ nhai mà không nuốt như: ăn trầu, ăn thuốc, ăn kẹo cao su…) Ăn thường đi cặp với uống thành ăn uống, tuy là hai việc, hai hành động khác nhau nhưng biến thành một. Thí dụ chàng hỏi: em ăn uống gì chưa? Nàng đáp: Sáng tới giờ đã ăn uống gì đâu. Đói thấy mồ! Đó là chưa kể các trường hợp khác, ý nghĩa chữ ăn uống bóng bẩy hơn: Ông A hỏi: Có được ăn uống gì không mà tôi thấy anh vất vả với công việc ấy thế? Ông B đáp: Người ta ăn đầu ăn đuôi, còn đâu đến lượt mình mà ăn với uống. Nhưng vẫn phải lo cho xong anh ạ.
Ăn uống có nhiều cách như ăn chín, ăn sống, ăn bằng đũa muỗng nĩa hay bằng tay (đôi khi liếm, mút cũng là ăn); trong các cách ăn lại có thủ tục đường lối rõ ràng, đại loại chia làm hai: cầu kỳ kiểu cọ, hay giản dị đơn sơ.(Tôi không bàn về các cách này vì nó sẽ tốn rất nhiều chữ, chỉ thỉnh thoảng khi nói về một vài món ăn đặc biệt tôi mới mô tả cách ăn đặc biệt cho riêng món ấy.) Nhưng dù đơn giản hay cầu kỳ, cách ăn cũng sẽ nói lên được thái độ, tư cách. (ăn nhỏ nhẹ như mèo, ăn chậm chạp như trâu, ăn ồn ào như lợn, ăn táo tợn như hùm…) Ăn uống qua loa quýt luýt, ăn uống trệu trạo; khác hẳn với ăn uống tận tình…Nhưng ăn uống lén lút, ăn vụng uống trộm, ăn riêng ăn chung…lại có nghĩa khác. Cũng như ăn trộm, ăn cướp, ăn chịu, ăn quỵt…thế là tôi lại lan man vào chữ ăn mất rồi. Đôi khi chữ ăn đi với món ăn rõ ràng mà không phải là ăn như: ông ăn chả, bà ăn nem. Đôi khi không có chữ ăn mà lại là ăn như: Hỏi: dạo này anh sống thế nào? Đáp: thì vẫn cơm hàng cháo chợ! Hoặc: vẫn cơm nhà quà vợ thôi!)... Thì ra ăn là cách sống, phong thái, phong độ sống. (ăn tục nói khoác, ăn không nói có; ăn thẳng ở ngay, ăn hiền ở lành…)

Tiếng Việt có chữ hốc/tọng/cũng là ăn, độ/thời cũng là ăn, nhá là ăn một cách khó nuốt; nhậu/nhắm/lai rai là ăn với…rượu/ chữ xơi cũng là ăn; gặm, cạp, nhấm, húp, ngốn, ngậm...đều là ăn hoặc động tác ăn.
 
Nhưng thôi, cứ tản mạn kiểu này sẽ chẳng bao giờ cùng. Ta hãy thử bàn về nghệ thuật ăn theo quan điểm của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939). Nhà thơ từng đưa ra một tuyên ngôn theo cách phủ định:
Món ăn không ngon: không ngon!
Chỗ ăn không ngon: không ngon!
Người ăn không ngon: không ngon!
Đây là một đòi hỏi tuyệt đối về nghệ thuật ăn, lại là chân lý đơn giản để ăn và sống ở đời. Món ăn, chỗ ăn, người ăn, là ba yếu tố không thể dời. Món ăn ngon là món mình thích, hợp khẩu vị của mình, cho dù chỉ đơn giản là củ khoai luộc hay bát cháo hoa. Món ăn ấy mình đã biết rất rõ đã được sạch sẽ chế biến nấu nướng tra nếm thế nào. Đã ngon, nhưng còn phải lành nữa mới tuyệt hảo. Có những món ăn ngon (sơn hào hải vị quí hiếm, một cách hiểu khác của chữ ngon), nhưng vì e ngại không tinh khiết sạch sẽ, không lành mạnh, nên mất cả ngon đi. Ta có câu: nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.
Chỗ ăn cũng vậy. Đó là nơi quen thuộc, hoặc thân thương, hoặc an toàn tin cậy, hoặc thoáng đãng, hoặc tình tứ, hoặc tràn đầy kỷ niệm…Nơi ăn cũng như chỗ ngủ, đều tùy thuộc vào mỗi người (mỗi vẻ). Nơi ăn mà ta thích, hẳn bữa ăn sẽ ngon hơn.
Còn người ăn? Có hai yếu tố: ta, và người. Nếu người ăn với ta là người ta không ưa thôi cũng đủ làm bữa ăn mất ngon rồi. Còn chính ta đang no ứ, tất nhiên không muốn ăn. Nếu không no, nhưng người không khỏe, miệng đắng, đầu váng, bụng lình sình, thì hỏi làm sao ăn ngon được? Hoặc ta đang giận dữ, đang lo lắng bồn chồn, buồn bã tan nát cả cõi lòng, ta cũng không thể nào ăn thấy ngon miệng. Tôi cho rằng yếu tố người ăn là chính ta, thân tâm, là yếu tố quyết định nhất cho việc ăn ngon hay không ngon. 

Tóm lại, ăn uống là một nhu cầu thiết yếu, nhưng rất phức tạp. Ăn uống nói lên đặc tính văn hóa của mỗi dân tộc, nói lên cá tính của mỗi con người. Nhà văn Thạch Lam từng viết: “Hãy để tôi ăn với bạn một bữa cơm, tôi sẽ cho bạn biết bạn là người thế nào.” Tục ngữ nói: “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây.” Và “Uống nước nhớ nguồn” Xem thế, điều ăn cái uống, lắm công phu và nhiều ý nghĩa. Chúng ta lần lượt đi tìm hiểu cái công phu và ý nghĩa ấy trong các món ăn Việt Nam, cũng để hiểu biết thêm về người Việt, và đặc tính của người Việt.


tường vũ anh thy 1/2012
Kỳ tới:  bàn về món ăn 






Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

rượu đời


 gửi các bạn rượu đêm thứ bảy vùa qua

rượu có mồi như đời có bạn
uống mềm môi như uống môi mềm
trông ra trái đất êm đềm
“mảng vui quên hết lời em dặn dò”
đời có rượu như đò có bến
trôi theo giòng nước đến nước đi
đôi khi trời bỗng ngủ khì
chui vào cõi mộng với bì rượu thơm
bì rượu thơm ta không giấu giếm
uống với đời uống đến tỉnh ra

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

100 năm trong 10 phút (1911 - 2011)

vệt mắt người




tiếng mưa rả rich bờ môi gió
trao lại đời sau những khó khăn
nhìn sững mênh mông nhìn sững mộng
khắp lòng sũng nắng nặng sương sa

vẫn mưa đan vạn ngàn mảnh lưới
vạn ngàn hơi thở khói bay xa
khói bay xa làm sao lưới lại
nước nổi đất chìm tim rất đau

mây đã lang thang từ dạo ấy
tóc cười say ngập óc đam mê
chỉ chực vẽ lên vài cảnh giới
tay cầm cây cọ ngại hư vô

sóng cuốn nhấp nhô tràn tiếng hát
táp vào bờ cát ngát men cay
ngang trời chợt cánh chim xòe rộng
bỏ lại mông lung vệt mắt người

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

Trong Lòng Gỗ Quan Tài - bảy


truyện nhiều kỳ




bảy


Vậy là ta quyết định dùng mông bên phải để húc nắp quan tài. Ta vặn vẹo hai khuỷu tay, hai đầu gối, hai bàn chân hai bàn tay, cả hai vai và cả sống lưng. Đem luồng pháp luân thường chuyển rà soát mọi bắp thịt gân cốt. Lần này ta không thể đổ thừa cho bất cứ điều gì. Nếu thất bại, đó là lỗi tại ta hoàn toàn. Đột nhiên ta nghe có tiếng “rắcc!” rất khẽ ở trong óc. Nó như tiếng củi nổ khi đốt lò sưởi. Tuy khẽ nhưng rõ mồn một. Lập tức sau đó ta bị nghiêng ngả và quay. Ta chơi vơi rơi trong bầu rỗng thăm thẳm. Ta không biết bám víu vào đâu. Tất cả đều trống không. Nguy rồi! Ta không thể bị quay. Hậu quả khó lường vì chết ngất. Niệm danh hiệu Quán Thế Âm, ta vội vã ngẩng đầu lên và đụng nắp quan tài. Mặc kệ! Ta cố duy trì một thế hatha yoga (soorya namaskar). Mặt mũi miệng ta ép sát vào mảnh gỗ lạnh và cứng. Ta chịu đựng hồi lâu để không bị kéo quay theo cơn lốc vô hình. Ta chợt nhớ đoạn phim về vị tướng vào xem phòng tranh của Vincent Vangogh. Phim này ta xem ở Sài Gòn trước năm 1975, nay không còn nhớ tên phim, tên đạo diễn, tên tài tử. Những vạt màu vùn vụt cuốn ông tướng vào cơn lốc xoáy. Quả thật tranh Vangogh bao giờ cũng chuyển động hừng hực như sốt, như muốn tuôn trào tung tóe ra khỏi vải bố. Sao vậy nhỉ? Có phải vì đầu óc ông luôn quay cuồng theo một điệu vũ? Ông luôn nhìn thấy vạn vật đang xoay vần, không bao giờ đứng yên? Ta thầm nhớ trong một bức thư gửi Gauguin, ông kể rằng đầu óc ông trôi nổi bềnh bồng trên những đại dương. Ta cũng nhiều lúc có cảm giác ấy. Óc lỏng bỏng như nước pha bột. Bây giờ cũng lại thế. Ta vụt hát trong đầu: starry starry  night, paint your palette blue and grey!...Giòng nhạc bỗng chuyển sang tiếng chuông mõ ngân nga: quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thế khổ ách… Những diễn biến như điện xẹt này đã cứu ta ra khỏi vòng quay tít mù kỳ lạ kia. Ta từ từ để mặt xuống hai bàn tay úp. Thở. Ta cần thở. Ta cũng nên kiểm điểm lại cách vận khí. Lâu nay luồng chân khí không có tiến triển gì khác lạ. Có phải vì ta đã không biết cách dẹp hết các duyên căn để không sanh niệm? Vắng bặt mọi tri kiến? Khó quá! Ta có mặt do ta suy nghĩ? Suy nghĩ là một dạng vật chất tinh tế luôn chuyển động trong hiện tại? Hiện tại lại là điểm gặp gỡ ở góc vuông của ý thức và tâm thức? Tâm thức có thể không có thời gian và không gian – có thể không ở dạng vật chất nào? Những câu hỏi vừa xác định vừa phủ định ngập ngừng quấn lấy ta. Ta vừa là ta vừa không phải là ta ? Có điên không đấy? Người ta bảo Van Gogh điên. Nhưng ông từng viết cho chị Wil của ông: “Chị hãy xem em – năm tháng chất chồng bao nhiêu đắng cay khổ não đến độ em không bao giờ còn cười được nữa. Do chính lầm lỗi của đời em – nhưng có phải thật là do em hết không? Dù sao em cũng tha thiết muốn một ngày kia được nở trên môi một đóa hoa hồn.” Ta không tin Van Gogh điên, cũng như không tin ông tự tử. Có thể ông có ý định tự tử, nhưng đã không làm. Gần đây các tác giả Steven Naifeh & Gregory White Smith đưa ra giả thuyết Van Gogh bị hai cậu bé con vô tình cướp cò súng trúng đạn. Viên đạn chéo vào bụng, mãi gần 36 giờ sau ông mới qua đời. Ông đã giữ kín điều này để không làm khó dễ cho hai cậu bé. Những bức tranh của Van Gogh tràn ngập tâm trí ta. Sôi động mãnh liệt như thôi thúc ta phải vượt thoát khỏi những vây khổn. Ta vươn cổ, dù đụng nắp quan tài ta vẫn dùng mũi hít hết mọi dưỡng khí bám trong thớ gỗ. Rồi bất ngờ, không hề tính trước, ta bật nhổm mông lên. Cú bật toàn thân va chạm vào nắp quan tài thành tiếng kêu “rắcc rắcc!”. Ah Hah!Hah! Rõ ràng có hai tiếng dài ngắn nối tiếp nhau. Ta mừng quá, quên cả đau đớn ở mông chân và tay.



(còn nữa) 

đọc lại kỳ

một

hai

năm

bảy















Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

thơ ngày mẹ mất



1


vẫn mây phủ kín toàn thế giới
mẹ cười mẹ khóc mẹ đi xa
mẹ đi xa chìm vào hương khói
các con còn mãi mãi trông theo



2


mẹ nằm yên như đất
con đứng lặng như cây
đất mênh mông những mộng
cây mọc lá ầu ơ
ầu ơ là tiếng mẹ
ru mãi một mùa thơ

tương vũ anh thy  5 tháng ba 1986