điêu khắc

Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

tưởng nhớ Vũ Hoàng Chương




Những ngày vào giữa năm 1975, ở trại tị nạn Fort Chaffee bỗng có một “tư trào” chuyền nhau đọc bài “ hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu cùng bản dịch của Tản Đà. Bấy giờ lòng ai cũng ngậm ngùi xót xa. Bài thơ kia có một cái gì đó nói lên cái tình cảm xa quê, và cái tình cảnh quê nhà đã mất.
Đến năm 1976, tôi ở San Francisco, bất ngờ được Thi Vũ ở Paris gửi bản chụp viết tay bản dịch “Hoàng Hạc Lâu” của Vũ Hoàng Chương, tôi đã bật khóc mỗi lần đọc. Bản dịch này mới trọn vẹn nói lên “ cái tình cảm xa quê, và cái tình cảnh quê nhà đã mất.”
Hôm nay, 6/9/2011, nhân ngày giỗ Vũ Hoàng Chương, tôi thắp ba nén nhang:


Phiên âm
HOÀNG  HẠC LÂU

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán  Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh  Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

THÔI - HIỆU


Bản dịch của Tản Đà

LẦU HOÀNG HẠC

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai 


bản dịch của Vũ Hoàng Chương

LẦU HOÀNG  HẠC

Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng môt màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi! 

Vũ Hoàng Chương 

 đây có lẽ cũng là bài thơ cuối cùng, ông đã "vàng tung cánh" đi đi mất ngày 6/9/1976. Và “ cái tình cảm xa quê, và cái tình cảnh quê nhà đã mất” của Vũ Hoàng Chương đau đớn hơn những người tị nạn như tôi, bởi vì ông lạc và mất quê hương ngay trên quê hương mình đang còn trú ngụ.
bài thơ dịch này do Cung Tiến phổ nhạc:
HOÀNG HẠC LÂU

Thứ Tư, 26 tháng 1, 2011

Lễ Cúng Ông Táo

Vài ý nghĩ nhân ngày cúng Ông Táo


Hôm nay là ngày 23 tháng chạp ta, người Việt có Lễ Cúng Ông Táo. Tục lệ này có nhiều ý nghĩa. Người Việt ai cũng biết chuyện cổ tích về Ông Táo nên tôi sẽ không kể lại. Tôi chỉ ghi vài ý nghĩ riêng về tục lệ này như sau:
1- Bếp lửa có trong mọi gia đình để nấu chín thức ăn. Về mặt kinh tế, bếp biết rõ gia đình ăn uống như thế nào, giầu có thoải mái hay nghèo khổ. Về mặt tình cảm xã hội, bếp biết rõ gia đình đầm ấm hay xào xáo. Do đó sau một năm, bếp tổng kết và tường trình, (annual report). Gia đình sẽ theo bản tường trình ấy để sắp xếp cuộc sống tốt đẹp hơn cho năm tới,
2-Tại sao bếp lửa có một bà và hai ông? Theo truyền thống đông phương, thể quẻ Ly thuộc dương, tính thuộc âm, nên có hai ông. Và theo truyền thống yêu nước, người Việt chống Tầu rất mãnh liệt, nên đã phản đối văn hóa phương Bắc:"quân tử bất cận trù phòng"  Người Tầu không để nam giới vào bếp (một hình thức bao che đàn ông, nô lệ hóa đàn bà) thì người Việt khuyến khích đàn ông vào bếp, càng nhiều càng tốt, để chia xẻ cái ăn với cả gia đình. Vì các ông vào bếp nhiều nên ta gọi bếp là Ông Táo ( Táo : Bếp )
3- Câu chuyện Thần Bếp và tục lệ cúng Ông Táo cùng cá chép vào ngày 23 tháng chạp mỗi năm, có lẽ đã có từ trước thời Hai Bà Trưng, trước tây lịch. Nước Tầu như một con cá sấu khổng lồ lúc nào cũng muốn nuốt chửng con cá chép Việt Nam. Nhưng vì đầu cá sấu ở phương bắc, mỗi lần quay lại đớp cá chép rất khó khăn. Cá chép lại có tài bay nhẩy (hóa được thành rồng). Đó là vì sao Lễ Cúng Ông Táo phải có cá chép để Ông Táo cưỡi. Thời cực thịnh của Việt Nam vào thế kỷ XI - XIV đã từng có Lễ Đuổi Cá Sấu. Không phải chỉ vì cá sấu thật quấy nhiễu mà Hàn Thuyên làm thơ nôm đuổi cá sấu. Những diễn biến đó là do người Việt làm chủ nước Việt, cá chép đã hóa rồng, đã đuổi được hẳn cá sấu Trung Hoa về phuơng bắc.
Hiện nay cá sấu Trung Hoa đang gầm gừ nhai nuốt Hoàng Sa, Trường Sa, hỏi người trong nước có dám làm Lễ Đuổi Cá Sấu không ?

tường vũ anh thy trưa 23 tháng chạp