điêu khắc

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

hai chiếc lá



lá trên cây
lá trong đầu
lá trên cây đi tìm ánh sáng
lá trong đầu im lặng suy tư
rồi mùa thu mùa đông
lá trên cây úa rụng
lá trong đầu im lặng suy tư

mùa xuân cây bung lá mới
lá trong đầu im lặng suy tư

tvat 16/1/11

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

uống rượu

   gửi theo Cao Đông Khánh và Cao Xuân Huy


trên trời có mây
dưới đất có nước
tới khi gió thổi
chỉ mình ta ngây ngô đứng ngó               

thôiiiiii
uống rượu điiiii

tường vũ anh thy
14/1/11

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

gần tết nhớ bùi giáng sài gòn

ông ngồi co trên ghế gỗ như sợ lụt
trong quán cóc đêm đường trương minh giảng
 xê xế xa xa bên kia là trường vạn hạnh
 tôi chỉ cụng ly với ông có một lần
 nhưng cú cụng truyền bao nhiêu công lực thơ
 ông có đôi mắt của con vượn
 lúc đăm đăm lúc thẫn thẫn thờ thờ
 cuộc rượu bất ngờ khi tôi còn quá trẻ
 để nhận ra chất độc ngấm vào xương
 ông đã ra đi ngày bẩy tháng mười năm một chín chín tám
 ở bên đó ông sẽ vẫn lê lết với thơ
 vì thơ là cái mũi của nghiệp
 nó ngửi được cõi người


 tường vũ anh thy
 12/1/11

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011

thác sinh

tia nắng xuyên vào trái đất
bật tung giòng nhựa trong cây
tim đã hừng đông xô tối
lòng như sóng vỗ tinh mơ
ta bước vu vơ thế giới
mở từng ngọn cỏ non xanh
đây đó bừng lên nét nhạc
bên này biết có bên kia

đời cứ chia ra mảnh vụn
mịt mùng bay lượn không gian
tân toan góp quanh giọt nước
chợt đóa hoa vàng khẽ thôi
nam mô bát nhã ma ha tát
cát tự bao giờ vẫn thác sinh
thác sinh, sinh thác từng tơ tóc
tóc em rời rợi thác sinh

ta trên bình minh của đất
đời gọi đời ríu rít xa
mỗi người là một bài ca
cõi riêng riêng nhịp âm ba chập chùng

tường vũ anh thy
11/1/11

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

năm mươi cảnh giới

tâm như họa sư
họa chủng chủng ngũ ấm
(Pháp Hoa kệ phẩm)

    Ngũ ấm hay ngũ uẩn là chữ của kinh sách Phật giáo, chỉ năm thứ tích tụ và hòa hợp tạo thành thân tâm con người. Năm thứ đó gồm có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Người ta do vọng tưởng phân biệt mà thọ sanh luân hồi trong ngũ ấm.Như đối với Sắc mà nhiễm Sắc thì tùy Sắc mà thọ sanh... Con đường tu hành thiền để vượt ra ngoài ngũ ấm, không bị ngũ ấm ràng buộc. Cho nên ngài Quán Thế Âm Bồ Tát tu chứng Bát Nhã Ba La Mật đã soi thấy ngũ ấm đều không mà được giải thoát. Xem thế đủ biết thiền rất giản dị, chỉ là đoạn đường từ có trở về không. Chấm dứt mọi móng tâm, không phân biệt sai khác, thiện ác, để bước vào quê hương vô phân biệt trí, quê hương của tánh không.
    Nhưng hỡi ơi trên con đường ấy lại lắm nhiêu khê, đầy ma sự, kinh gọi là ấm-ma. Kinh Lăng Nghiêm chỉ rõ các ấm ma ấy, tùy tiện hiện ra trên đường. Mỗi ấm ma là một cảnh giới. Mỗi ấm có mười ấm ma, mười cảnh giới. Đi hết ngũ ấm là đi qua năm mươi cảnh giới, năm mươi ấm ma, năm mươi ma sự.
   Trái tim cũng là gốc của tất cả mọi ma sự, cho nên tất cả mọi cảnh giới đều tùy tâm mà biến hiện. Thế giới hiện  tượng này  do đó chỉ là hư không và ảo mộng. Hỡi ơi, hư không sinh trong tim ta, như mây điểm trên bầu trời. Nếu mỗi cảnh giới đều chứa một vì sao, thì tôi mong mỗi vì sao sẽ chuyển y thành hạt lệ rơi xuống nắng trần gian. Để nắng trần gian co lệ thành muối. Đó là muối của trời. Muối của trời sẽ làm mặn lại muối của đất đã mất mùi đi. 
    Khi tôi viết tới đây thì nghe tin đức Đạt Lai Lạt Ma, vị Phật sống của Tây Tạng được trao giải Nobel hòa bình 1989. Tôi chợt nghe như có tiếng của Jesus Christ vọng về từ Phúc Âm:
    Các ngươi là muối của đất. Muối vốn tốt, song nếu muối mất mùi đi thì lấy chi mà làm mặn lại ? Khá có muối trong các ngươi, và hãy hòa thuận cùng nhau.
    Và tôi tìm đọc lại kinh Lăng Nghiêm, quyển 9,đoạn II, như một lời đáp bản Phúc Âm.
    Và tôi làm được bài thơ tặng ngài Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng


                        năm mươi cảnh giới


                        năm mươi cảnh giới năm lần cửa
                        huyền hoặc trăng rằm phơi núi mây
                        một niệm đầy vơi khơi mấy chốc
                        hai tầng cao thấp lấp trăm năm
                        ô kìa đã mấy ngàn năm
                        cánh sen bát nhã vẫn nằm trong ao
                        ô kìa giữa cõi chiêm bao
                        cánh tay nước cuốn lao chao bơi hoài
                        năm mươi cảnh giới năm mươi cửa
                        huyền hoặc trăng về một cửa không

                        tường vũ anh thy 
                        san jose 5/10/1989
      
(Trích trong Tác Giả Tác Phẩm; Thế Giới Lưu Vong Hôm Nay xuất bản 1989; gồm: Cao Đông Khánh, Đỗ Kh.,Đoàn Văn Xuyên, Khánh Trường, Lê Uyên Phương, Lê Thị Huệ, Trần Trúc Giang, Tường Vũ Anh Thy)

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

SEN BÁT NHÃ TRĂNG LĂNG GIÀ

Thay lời tựa
 Mật Tông và Kinh Đại Thừa 
Tiểu-luận của Nghiêm Xuân Hồng (Ức Trai xuất bản 1986)




Hình như thế kỷ thứ 21 đang ú ớ cựa mình trên đỉnh Bắc cực và Nam cực của địa cầu.


Nhưng người ta có lẽ vẫn còn đắm đuối trong giấc ngủ nặng nề, trong ác mộng triền miên của thế kỷ 20. Trăng ở Mỹ châu đêm nay đang chiếu sáng như suốt về mấy ngàn mùa trăng xưa.


Ðột nhiên ngồi nhớ bốn câu thơ của Thiền sư Huệ Sinh từ thế kỷ thứ 11 đời Lý:


tịch tịch Lăng Già nguyệt
không không độ hải chu
tri không không giác hữu
tam muội nhiệm thông châu


Ðột nhiên dịch thành chữ Việt:


thuyền vượt biển có không không có
trăng Lăng Già lặng gió bao la
đã hay không có không là
luồng tam muội đã đi vào biển tâm


Trăng Lăng Gỉà hay trăng sơ huyền - hay trăng cổ độ - hay trăng lòng- trăng cõi - từ mấy ngàn năm xưa vẫn tịch nhiên là trăng bây giờ – và tức thị trăng thế kỷ 21. Chữ “tức thị” hiển lộ bài Bát Nhã Tâm Kinh trong lòng. Và bài Bát Nhã tức thị là lòng người vời vợi giữa thời gian, giữa không gian ta bà và tịnh độ.


Có tức thị không
Không tức thị có


và như lời thơ bát ngát ẩn mật của thiền sư Từ Ðạo Hạnh thế kỷ thứ 12:


Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước thị không không


Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Thử xem bóng nguyệt lòng sông
Ai hay không có có không là gì
(bản dịch của Phan Kế Bính)


Có lẽ Ðạo Hạnh và Minh Không là hai thiền sư Mật Tông và Ðại Thừa đã hiển lộ nhiều hóa thân hóa hiện nhất trong lịch sử Thiền Mật Tông và Ðại Thừa Việt Nam. Sự tích của các ngài đều được chép trong chính sử. Tinh thần Mật Tông và Ðại Thừa bao giờ cũng bàng bạc trong lịch sử thiền Việt -Nam, và Thiền Việt-Nam cũng bàng bạc trong lịch sử Việt-Nam từ đầu thế kỷ thứ 3 đến nay. Lịch sử ấy cũng là lịch sử của Lăng-Nghiêm và Bát-Nhã - của Trăng và Thuyền - Trăng và Sen - Sen và Lòng người . Trăng sáng tự nhiên, sen nở ngào ngạt, và lòng người thơm ngát vượt có không không có. Chính vì thế mà vua Lý Thái Tông viết được 2 câu thơ kỳ lạ:


Hạo hạo Lăng-Gìa-nguyệt
Phân phân Bát-Nhã-liên


toan dịch là:


Vầng trăng lồng lộng Lăng Già
Cánh sen Bát-Nhã chói lòa sắc không


Nhưng thật không nắm bắt được thần ý của vua. Trong kinh Lăng-Già (Sutamgama Sutra) mục Phật hỏi về viên-thông, thì có ngài Quán Thế Âm ra trình bày chỗ đắc viên thông của mình:


Tòng văn, tư, tu
Nhập sa-ma-đề


Bí quyết giản dị này ai cũng có thể theo được: “Hãy nghe, hãy nghĩ, hãy làm, thì nhập định”. Chữ “văn” là nghe, cũng phải hiểu như “kiến” là thấy, Nghe và Thấy có nghĩa lã sự vụ đó có thật, không dối (chân thực, bất hư.) Chữ “tư" là nghĩ, là nhớ, nhận, nhập. Chữ “tu" là quán chiếu, soi chiếu, thực hành, làm thành. Cả ba chữ có thể tóm lại 2 chữ “hành thâm” trong bài Kinh Lòng Bát Nhã Ba La Mật . Ðây là khởi điểm của Mật Tông và Ðại-Thừa. Không có “hành thâm” thì không có gì hết. Ngược lại, có “hành thâm” thì có tất cả Mật-Tông, Ðại Thưà, Tiểu-Thừa. . .


Hơn 300 trang chữ nghĩa của cư sĩ Nghiêm Xuân Hồng trong tập tiểu luận về Kim Càng Thừa nhằm khai mơ’ ý nghĩa của hai chữ “hành thâm” đó. Chỉ khai mở thế thôi, còn có “hành thâm” hay không lại là tuỳ túc duyên của người đọc.


Những trang kinh Mật Tông và Ðại Thừa đôi khi huyền hoặc như một đêm trăng sáng, bí ẩn như một nụ sen, và những hình bóng mơ hồ của vô lượng kiếp người lang thang ngoài núi rừng khe động, trong phố thị phồn hoa, đều chập chờn theo sương khói. . . Một chữ khởi đi là ngàn vạn chữ kêu gào. Cho nên ngòi bút cũng dễ lạc vào mê đồ ảo phố. Cái khó sẽ ló cái hay. 300 trang của cư sĩ vẫn thơ thẩn, nhẩn nha như một người đang bước trong vườn nhà. Không một bước quá chậm hay quá nhanh. Không một hơi thở nào được ghi nhận là khẩn cấp.


Trăng trên cao vẫn vằng vặc và sen trong hồ, hay sen trong lòng vẫn từ ái nở ra.


Hạo hạo Lăng Già nguyệt
Phân phân Bát Nhã liên


Hình như vầng trong đó, và đóa sen kia đã từ vô lượng thời gian xưa. . . từ thế kỷ thứ 3, thứ 4, thứ 11, thứ 12, thứ 20, hay thế kỷ thứ 21 đang ú ớ cựa minh trên bắc-cực. Và tâm thức kẻ lên đường là tấm lòng người viễn khách. Một lần đi là vĩnh viễn bước đi đến kỳ cùng cuộc lữ (hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Ða). Ðến tột bờ mé vẫn hằng hằng mở phơi cứu độ không lời.


“Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”


Tường Vũ Anh Thy,
San Jose, mùa trăng tháng 6/1986


www.thuvienhoasen.org

Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2011

đầu năm

đầu năm lòng bỗng dưng hóa bún
rổ rá buồn nằm úp mặt vào nhau
khúc nhạc chopin tuôn tràn theo sóng vỗ
ngập căn nhà gỗ một mình
xem lại tượng archipenko đi tìm khoảng trống không bao giờ trống
xem lại kinh duy ma đi tìm căn bệnh không bao giờ bệnh
nếu ta không có thì ta không mất
bún đầu năm mềm cứng cứng mềm
nhạc rền lan bên thềm
ta cạn cùng ta dăm cốc rượu
ta có nhớ không
đầu năm
hay
năm đầu

tường vũ anh thy
1/1/11