điêu khắc

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

tình sử: lông ngỗng mỵ châu (2)





Thục Nam Trân Châu

Mỵ Châu tên thật là Thục Nam Trân Châu (tôi suy luận từ tài liệu của Trần Quốc Vượng: Ở lưỡng Quảng có Việt-Kiệu-Thư chép người Đông-man nước Nam Việt thời Tần rất mạnh, có phép dùng nỏ tài tình, mũi tên bằng đồng bắn xuyên hàng chục người. Triệu Đà rất sợ. Vua Man (chỉ An Dương Vương) có con gái là Nam Trân (chỉ Mỵ Châu) xinh đẹp và giỏi nghề làm nỏ. Triệu Đà bèn sai con (chỉ Trọng Thủy) sang cầu hôn ở rể để học nghề. Trọng Thủy học được cách chế nỏ và phá nỏ, ba năm sau bỏ về, rồi cùng Triệu Đà đem quân đánh Nam Việt. | tôi cũng đồng ý việc dùng chữ “mỵ” như “mỵ-nương” chỉ có nghĩa là cô, nàng; của những nhà quyền quí.) Nhưng đã từ lâu dân gian gọi là Mỵ-Châu, tên thân mật và quen thuộc rồi. Cứ theo các truyền thuyết từ lịch sử đến truyền miệng thì Mỵ Châu là con gái duy nhất của An Dương Vương Thục Phán. Có lẽ vua không có con trai. Vì là con độc nhất nên Mỵ Châu càng được vua cha cưng chiều. Vua đặt tên Châu hoặc Trân Châu là có ý quí trọng đặc biệt. Sách Thiên Nam Ngữ Lục ca tụng Mỵ Châu :
Dốc bề trọn đạo tam tòng
Chẳng đua quyền quí, chẳng lung gian tà
Vẹn thời sau trước nết na
Thái Khương ấy tiết, Hằng Nga ấy lòng
Mỵ Châu giỏi nghề làm tên và nỏ. Đây là nghề bí mật quân sự của quốc gia. Thiên Nam Ngữ Lục mô tả:
An Dương có nỏ vuốt rùa thiêng thay
Bắn ra lửa cháy khói bay
Chết binh tên lại về ngay tay người
Vũ khí tinh xảo và hữu hiệu này chắc chắn phải rất khéo léo đặc biệt mới chế tạo được. Linh thiêng hay ảo diệu chính lại cần cái vuốt móng rùa làm lẫy. Mỗi lần bắn, tên ra liên tiếp 10 mũi. Mấy trăm năm sau, thời Tam Quốc bên Trung Hoa mới thấy nhà quân sự thiên tài là Gia Cát Khổng Minh nói (trước khi chết) với người kế nhiệm là Khương Duy:  “Ta có phép bắn nỏ " tên ra liên tiếp"  nhưng chưa từng dùng đến. Theo phép chế: tên dài 8 tấc, mỗi lần giương là bắn 10 mũi tên một loạt, ta đã vẽ thành đồ bản. Ngươi nên y theo phép chế tạo mà dùng.”(Tam Quốc Chí diễn nghĩa, bản dịch của Tử Vi Lang) Nhưng sau đó không thấy Khương Duy áp dụng. Có lẽ vì thiếu cái móng vuốt rùa chăng? Bởi cứ như Thiên Nam Ngữ Lục kể thì Trọng Thủy tuy lấy cắp được móng rùa, nhưng về đến sông Đại Bàng, đêm ngủ bỗng móng rùa vụt rơi xuống nước mất. Như vậy cách chế tạo bị thất truyền ? Ta đã biết nước Âu Lạc do Thục An Dương Vương gồm thâu nước Văn Lang của Hùng Vương từ những năm 257 trước công nguyên. (nhân đây cũng nên nói qua về “18 đời Hùng Vương” chỉ là cách gọi tượng trưng cho một giai đoạn lịch sử dài dựng nước của người Lạc Việt từ năm 2879 trước tây lịch đến năm 257 trước tây lịch. Đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn, vừa dựng vừa giữ nước. Chử Đồng Tử là người đã chinh phục được đầm lầy, và sẽ là người xây dựng nền văn minh đầm lầy cho nước Văn Lang bằng cách du nhập văn minh Hy Mã Lạp Sơn rất hòa bình vào văn minh bản địa Hoàng Liên Sơn. Sau năm 257 trước tây lịch, nước Âu Lạc ra đời sẽ phải đối đầu với văn minh lục địa Trung Hoa đã bị xiềng xích bằng “ lễ nhạc Khổng Khâu”. Từ đây người Việt luôn luôn bị giằng co, và từng bị giày xéo bởi lễ giáo Trung Hoa. Ta đang nói về giai đoạn đầu tiên, trước khi Triệu Đà thần phục nhà Hán.)
Chính vì được yêu quí tin cậy như thế mà sau này Mỵ Châu bị dính mắc vào sự dòm ngó của ngoại bang. Tin tức tình báo của quân Triệu Đà về một  công chúa đẹp đẽ và tài giỏi của An Dương Vương đã xây dựng kế hoạch cầu hôn và ở rể. Trọng Thủy thực hiện gian kế này thật là xuất sắc. Trong vòng 3 năm anh ta được kể như là người của Âu Lạc (giống như được nhập tịch). Cũng như bao nhiêu điệp viên thời chinh chiến,  bằng bất cứ giá nào, Trọng Thủy vẫn phải hoàn tất điệp vụ của mình. Thiên Nam Ngữ Lục kể hai vợ chồng Trọng Thủy –Mỵ Châu có một con trai. Dĩ nhiên An Dương Vương sẽ mừng vui vì có  người thừa-kế. Và Trọng Thủy càng được tin cậy, đến độ được tham dự vào việc binh bị vũ khí bí mật quốc phòng. Người gián điệp Trọng Thủy phải tính ngay đến cuộc tháo chạy an toàn sau khi phá hủy được vũ khí địch và nắm giữ được bí quyết chế tạo. Nhưng có lẽ tình và con người của Mỵ Châu đã phần nào cảm hóa và ảnh hưởng được Trọng Thủy, nên những ngày tháng cuối cùng anh ta mới bàn với Mỵ Châu kế hoạch “tìm nhau trong khói lửa”.
(còn nữa)









Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

tình sử: lông ngỗng mỵ châu




Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa đường

Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương
Duyên nợ tình kia dở dở dang

Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Ngàn thu khói nhang

Đó là bài TRỌNG THỦY-MỴ CHÂU của Tản Đà (1889-1939). Còn trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát & Phạm Đình Toái (bản của Hoàng Xuân Hãn in tại Sài Gòn 1956) kể chi tiết:

Mặt ngoài hai nước phân cương
Mà trong Triệu lại mở đường thông gia
Nghĩ rằng Nam-Bắc một nhà
Nào hay hôn-cấu lại ra khấu-thù
Thục-Cơ tên gọi Mỵ-Châu
Gả cho Trọng-Thủy con đầu Triệu Vương
Trăm năm đã tạc đá vàng
Ai ngờ thế-tử ra đàng phụ ân
Tóc tơ tỏ hết xa gần
Thừa cơ đem máy nỏ thần đổi đi
Tỉnh-thân giả tiếng bắc qui
Đinh ninh dặn hết mọi bề thủy chung
Rằng:”Khi đôi nước tranh hùng
Kẻ Tần người Việt, tương phùng đâu đây?
Trùng lai dù họa có ngày
Nga mao xin nhận dấu này thấy nhau”
Cạn lời, thẳng ruổi vó câu
Quản bao liễu oán, hoa sầu nẻo xa!
……………………
Chữ “nga mao” nghĩa là lông ngỗng, hai ông Ngọc Hồ & Nhất Tâm ghi chú: “ có 2 thuyết: một nói gối dồn bằng lông ngỗng, một nói áo dệt bằng lông ngỗng. Không rõ Mỵ Châu dùng thứ nào để rắc dọc đường.” Trong cuốn Lĩnh Nam Chích Quái, Lê Hữu Mục dịch là “nệm gấm lông ngỗng” và chú thích: “ dịch chữ nhục. Có người dịch là áo choàng e không đúng. Nhưng thực ra nệm gấm mà thường mang trên người thì cũng là một thứ áo choàng.” Tác giả Hoàng Cơ Thụy trong Việt Sử Khảo Luận in ở Pháp năm 1987 có nhận xét: “ Tưởng cũng nên thêm vài lời về “nệm gấm lông ngỗng”; phải chăng tác giả cuốn Chích Quái lầm chữ “gấm”, chứ thời An Dương Vương đã làm chi có gấm, nhiều lắm là vải thường mà thôi. Nhưng ta nên để ý đến những cái lông ngỗng gài trên nệm: phải chăng đó là lông con chim Hồng, vật tổ của dân Lạc Việt, nay đã thành ra hiếm, chỉ công chúa Mỵ Châu mới còn có mà thôi?” Đến đây thì câu chuyện bắt đầu xa rồi, là lông ngỗng hay lông hồng, là chăn nệm hay áo choàng áo gối thì rõ ràng Mỵ Châu có một thứ làm bằng lông vũ, nàng đã bàn bạc với Trọng Thủy từ trước, đem theo trên đường chạy loạn; và nàng đã rải suốt dọc đường để làm dấu cho người chồng người tình của nàng. Hành động này mặc nhiên xác nhận rằng nàng vẫn yêu, vẫn tin vào tình yêu. Vì thế câu chuyện kể của làng Cổ Loa ở đoạn cuối không có lý. Làng Cổ Loa kể rằng: sau khi vua cha An Dương Vương chém con gái theo lời yêu cầu của Rùa Vàng thì xác Mỵ Châu liền biến thành đá trôi về làng Cổ Loa báo mộng cho dân làng khiêng về thờ. Còn Trọng Thủy không tìm thấy xác Mỵ Châu… Sau hồn Mỵ Châu dìm chết Trọng Thủy...Câu chuyện dài dòng và không đẹp. Sau đây tôi phối hợp từ nhiều nguồn tài liệu, phân tích thiên tình sử Lông Ngỗng Mỵ Châu.
(còn tiếp)




Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

thơ rượu II

rượu còn có ly

đời lưu lạc lại thêm dâu bể
sầu thêm sầu tội lắm người ơi
người ơi rượu có tiêu sầu?
sầu không có mắt rượu còn có ly

rượu kể

nhưng uống rượu thấy đã đời…dâu bể
trước phải kể rượu làm ta thích kể
kể đời ta kể đời bạn kể đời người
kể với rượu kể với ta kể với bóng
kể lóng ngóng như lần đầu mới kể
ví dầu rượu chẳng tiêu sầu
thì men rượu cũng cầm nhầm được tay…ai
ví dù đếm một thành hai
thì mai kia mốt nọ lọ chai anh đền

tường vũ anh thy 
xem lại :

thơ rượu


Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Cao Bá Quát: tiếng hú dài cõi mộng

tiếp theo bài

Cao Bá Quát: Tiếng Hát Tâm Không






Tiếng hát tâm không ấy vĩnh viễn lan trong không gian cô tịch, giữa một buổi chiều xuân xứ Huế, hình như đã nhập vào những đôi môi đôi mắt trọ trẹ Thừa Thiên, khiến thiên nhiên thành cõi mộng. Cõi mộng nào cũng có trăng. Trăng như con ngươi mở lớn. Trong trăng có mộng, và trong mộng có trăng. Trăng cũng là mộng. Mộng là trăng. Người đi vào cõi mộng là người đi vào cõi trăng. Khi tỉnh ra rồi thì không biết người là trăng hay trăng chính là người.
Con đường của Trang đi là con đường của cõi mộng. Trang mở mộng bằng đôi cánh chim Bằng, lướt theo gió lớn. Trang trở về bằng đôi cánh bướm mùa xuân (bướm trắng Nhất Linh) nương theo gió nhẹ.
Xưa Trang chiêm bao thấy mình là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không còn biết có Trang nữa. Chợt tỉnh giấc, thì lại thấy mình là Trang. Không biết Trang chiêm bao là bướm, hay bướn chiêm bao là Trang ?
Đó là tâm trạng và tâm thức của những tâm hồn đã hoàn toàn vui trong cõi mộng và ấm trong cõi đời. Cao Bá Quát cũng có niềm vui ấy, và nỗi ấm ấy. Nhưng rốt cuộc ông vẫn một mình bươn bả ở ngoài trăng. Ông vẫn mãi mãi là nỗi-thao-thức-không-rời về thân phận con người trong lưới đời giăng mắc. Ông vẫn mãi là chính ông ngay trong đáy mộng. Không có cách gì hóa bướm. Nơi trại giam đã hai lần đổi chỗ, ông đã thấy mười cuộc trăng tròn – mười giấc mộng trôi xa. Mắt ông mở lớn cho bằng với mắt trăng. Trăng khi nào cũng sáng, cũng vằng vặc như bao mùa trăng cũ…Mắt nhìn trăng trừng trừng như định mạng. Chân ông chôn kín một góc trời. Bây giờ ông nhận ra một điều hết sức kinh hãi là ở tù lâu quá đâm quen cả với không gian tù. Chỉ còn trăng là tiếng gọi duy nhất ngoài thế giới xa kia. Và chỉ có cánh chim Bằng của Trang mới đưa được ông tới đó. Ông mượn hay giựt đại cánh chim Bằng của Trang để hối hả bay đi. Ông không biến thành chim, thành Trang hay thành bướm. Ông vẫn là ông. Và ông bay đi không phải để nghêu ngao vui thú, mà để trắc nghiệm, tìm thăm một tiền kiếp xa xăm của chính mình. Nơi vầng trăng ngọt là một rừng quế. Vì thế cung trăng còn gọi là cung quế. Trăng muôn đời thơm mùi cây quế. Hay quế của muôn đời thơm đẫm mùi trăng? Hỡi ơi nơi cõi mộng đầy quế thơm lại là nơi đày đọa một người. Người ấy họ Ngô, họ Vũ, hay họ Cao? Thưa đó là người đi tu tiên vào thời Hán, thời Hùng, thời Đinh Lê Lý Trần? Đã thành tiên mà còn mắc tội để đến nỗi bị đày! Tội lỗi là gì vậy? Tại sao lại bắt ông ta đi chặt quế ? Hỡi ơi quế là loài linh mộc, da thơm và cay nồng như màu mắt Thừa Thiên, không một loại dao kiếm nào có thể chặt được. Chặt đến đâu, da quế liền lại đến đó. Đã không muốn chặt, và chặt cũng không được, thì suốt đời chịu đóng đanh trong rừng quế mà thôi! Ôi té ra bị đày vào rừng quế cũng còn là một công án ? Ông tiên họ Ngô bước ra từ cây quế, hay từ cây quế bước ra, đon đả  kéo tay ta đến bên một cây quế thì thầm. Ôi mùi quế lẫy lừng làm ta bối rối hoang mang, tim đập thình thình. Hình như ông nói miên man mơ hồ về kiếp trước của ta ? Hình như ta với trăng là một đôi tình nhân kỳ lạ? Lời ông nhỏ quá, nghe vo ve văng vẳng như tiếng ong trong rừng vắng. Ta làm sao nhớ được. Quế vẫn ngạt ngào, trăng vẫn long lanh. Ta không chịu nổi. Ta khoa tay từ giã – ta bàng hoàng chia tay. Khắp châu thân đầy rẫy mùi quế. Nội phủ căng phồng, tứ chi mãn túc. Hốt nhiên ta bật ra tiếng hú – tiếng hú dài theo ngọn gió nam sà xuống Thừa Thiên. Tiêng hú dài liên miên vang vọng khắp phương trời chiêm bao trùng trùng điệp điệp.
Tiếng hú dài cõi mộng. Mộng ở Thừa Thiên hay mộng nơi cung quế? Các bạn ta ơi! Bây giờ là rằm tháng sáu. Trăng tháng sáu tròn hơn trăng tháng năm? Trăng tháng năm tròn hơn trăng tháng tư? Ta một mình nâng rượu mời trăng, nâng rượu hỏi trời. Ôi có phải trời đất bất nhân coi mọi loài như loài chó rơm? (thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu – đạo đức kinh) Ôi có phải hạt cơm thì trắng, hạt nước mắt thì đen? “các bạn ta ơi bao giờ được thả? Đến bao giờ ăn được bát cơm ngon?”(lời nhạc Nam Lộc). Trời đất mênh mang làm sao ta hỏi. Thôi thì bắt chước người xưa làm thơ con cóc. Con cóc là cậu ông trời…ai mà đánh nó, nó bèn …làm thơ…Làm thơ hỏỉ cháu trời cao: tại sao thi sĩ lại đi ở tù?

LỤC NGUYỆT THẬP NGŨ DẠ NGUYỆT
HẠ TÁC PHỤNG KÝ CHƯ CỐ NHÂN


Cơ lưu lưỡng thiên thứ
Thập kiến hải nguyệt viên
Nguyệt cận bất cải sắc
Khách cư hành dĩ biền
Ngã dục sáp song thí
Phi bộ lăng tử yên
Lộ phùng Ngô tiên nhân*
Ấp ngã quế thụ biên
Tương kiến vị khoản khúc
Tự thoại dư sinh tiền
Ngữ tế liễu bất ký
Huy thủ nam phong điên
Quy lai nhất trường khiếu
Bả tửu dục vấn thiên
Thiên cao bất khả vấn
Thả phú tù sơn thiên**

TRĂNG RẰM THÁNG SÁU
GỬI CÁC BẠN TA ƠI !

Phòng giam đã hai lần di chuyển
Mười con trăng trên biển mù xa
Trăng nay vẫn sáng như là
Người nay bỗng phải quen nhà tù lao
Có lúc muốn chấp chao đôi cánh
Lên chin tầng mây tía lô nhô
Chợt ông tiên cũ họ Ngô
Ở bên cây quế kéo vô vái chào
Gặp nhau những nghẹn ngào đón tiếp
Kể huyên thuyên duyên kiếp trước sau
Thì thào không thể nhớ ngay
Sà theo ngọn gió khoa tay giã từ
Về thế giới hú dài một tiếng
Nâng rượu lên hỏi chú trời cao
Trời cao hỏi được đâu nào
Làm thơ con cóc ra vào ta ngâm

* trong bài Thiên Cư Đối Nguyệt, Cao Bá Quát cũng nhắc đến ông tiên này:” dục bằng Ngô Chất phủ, chiết quế hợp đơn thành” nghĩa là ta muốn mượn cái búa của Ngô Chất để đẽo cho được nhành quế. Ngô Chất là người thời Tam Quốc, tự là Quý Trọng, cũng gọi là Ngô Cương, có tài thông bác, các bậc quyền chức đương thời đều kính nể. Sau đi tu tiên. Đồn là thành tiên nhưng phạm lỗi thiên đình bắt phải đi chặt quế !
** Tù Sơn là tên một bài phú của Liễu Tôn Nguyên đời Đường. Chúng tôi không dịch nghĩa mà chỉ lấy ý cho trọn nhịp hứng của bài thơ.
(trích Tường Vũ Anh Thy - Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi - Ức Trai xuất bản 1985)







Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

mùi rượu thơm

buổi sáng rất vắng
những lá nho trổ xuân trong nắng
lắng nghe tiếng rượu gọi 
hãy cùng thả trôi đời
nô với mây chân đất


và buổi trưa im
rượu ngủ dưới đáy thùng
trên hết tất cả là không cùng


đến đêm nằm bên cát nghe mưa thở nghe mưa hát nghe mưa thủ thỉ nghe mưa khóc mới thấy nhớ kiếp trước mở cửa đi mãi vào hoang vu với cõi lòng nặng trĩu vì vướng mắc vào một  hạt cát ướt mà hạt cát ấy trôi buôn buốt tuốt luốt ở mãi đâu đâu
suốt đêm mùi rượu thơm như mùi cơm đang chín tới như mùi nắng nho vừa khô còn đọng bên mép cằm ù ơ hàm răng trắng như mùi mằn mặn đăng đắng của mồ hôi
suốt đêm
suốt đêm
mùi rượu thơm






tường vũ anh thy

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

lá II



LỜI DẪN: tôi nghe được chuyện này: có một ông già Việt Nam xuất hiện trong một quán đông. Trông ông khỏe mạnh tươi tắn, ăn nói rất nhiệt tình và quyến rũ. Hỏi ra mới biết ông là một người tù vừa được tha. Ông đã ở tù 17 năm. Và suốt 17 năm, hoàn toàn sống trong bóng tối. Ông không hề được nhìn thấy ánh sáng của bầu trời. Hỏi: 17 năm trời ấy, ông nhớ, nghĩ và mơ ước gì? Đáp: Nhiều nhất là màu xanh của lá, tiếng trẻ thơ , và ánh nắng vàng.
Chuyện do một người bạn (ở Mỹ) về Sài Gòn tình cờ gặp ông, kể lại. Tôi chỉ là kẻ nghe hóng. Nhưng tai tôi vẫn nóng lên. Tôi nghĩ đến chiếc lá 17 triệu năm nằm hiu quạnh dưới đáy hồ ở Idaho. Nghĩ đến những người tù nổi tiếng như Nelson Mandela, vô danh như ông già Việt Nam nọ, hay như bao nhiêu người tù bất hạnh, biết đâu đang hiu hẩm ở châu Á, châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Úc…Dostoievsky trong cuốn “Anh em nhà Karamazov” cũng nói đến niềm ước ao của một người sống trong bóng tối thèm khát màu xanh của lá.
Tôi làm bài “Lá II” để tặng những người tù còn sống hay đã chết, và nguyện cầu cho thế giới chiến tranh này sớm chấm dứt.


có một người đàn ông trong tù
suốt 17 năm không nhìn thấy lá
và có một chiếc lá dưới đáy hồ
suốt 17 triệu năm không thấy mặt người

ở trong tù
người đàn ông cười vẫn một mình
hai hàm răng không tăng không giảm ?
ông gối đầu lên những giấc mơ
mơ về một chiếc lá xanh xanh lá
tiếng trẻ thơ và đóa nắng vàng

dưới đáy hồ
chiếc lá quạnh hiu xanh

mười bảy năm qua
mười bảy triệu năm qua
nắng vẫn rơi vàng thế giới
mà không tới ông tù
không tới đáy hồ sâu
dù nhà tù ở Việt Nam
hay đáy hồ sâu ở châu Mỹ

suốt 6205 đêm, không có ngày
người tù nghe ngóng
tưởng như khắp không gian
có những chiếc lá xanh
và ánh nắng vàng
sẽ nở thành hoa đốm
giữa bày trẻ thơ

ông áp tai xuống đất
tưởng đến một chiếc lá rơi
sẽ vô cùng tê tái
ông gõ tay vào đất
chuyển nhịp tim ông đến lá bên ngoài
bên ngoài loài người vẫn đánh nhau
khi nóng khi lạnh đều tàn nhẫn
người tù cố giữ hai lá phổi
một lá tim và một lá gan
trong ngục tù tăm tối
xối mòn mỏi xương da
ông khẽ ca
một bài xanh của lá

suốt 6205 triệu đêm, kể cả ngày
dưới đáy hồ châu Mỹ
chiếc lá nằm
chờ
tịch mịch

bây giờ hai lá phổi Việt Nam thiếu nắng
bên lá lách Trung Hoa
bên lá gan Nga đều rất đắng
tôi lo lắng
với những người ở trong bóng tối
cùng nguyện cầu cho trái đất này
đến được những giấc mơ
mơ về một cõi xanh xanh lá
tiếng trẻ thơ và đốm nắng vàng

tường vũ anh thy 10-1990
xem lại bài

LÁ


Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Cao Bá Quát: thiên địa nhất thi tù



Ngày tháng trong tù trôi rất chậm – chậm đến độ người tù có cảm tưởng mình cầm được thời gian. Bởi vì thời gian thì rất gần, kề sát một bên, đè lên đầu tóc mắt môi, thấm vào xương máu. Nhưng không gian lại rất xa – xa đến độ người tù có cảm tưởng mình không ở trên đời. Bởi vì ánh nắng ngoài cửa, trong khe, tuy nhìn thấy mà không với bắt được. Đêm trăng càng như xa lắm. Cả một giải trăng ngoài kia không nói làm gì, đến như vạt trăng rất gần ngoài cửa sổ, người tù cũng không được đụng đến. Hỡi ơi mưa càng đứt ruột. Con nước dâng nửa đêm về sáng. Gió chớm mùa đông thổi vì vèo như đuổi mùa thu đi. Cái không gian xa quá là xa kia, và cái thời gian quá gần này đã làm mỏi mòn võng mô. Màng mắt người tù không đủ nước, phải sước ra, vừa xót vừa đau. Phải chăng đây mới thật là mỏi mòn con mắt phương trời đăm đăm. Người ta hay dung chữ “lệ đá”. Nghe thì đẹp mà có diễn tả được điều gì. Cao Bá Quát ở tù mới cảm nhận được thế nào là thời gian dũa mòn con mắt, thế nào là nước mắt khô, nước mắt sống; thế nào là máu mắt, thế nào là bệnh nhãn. Không phải chỉ có bệnh nhãn mà thôi, bệnh đủ thứ trên xác thân và trong nội tạng. Chỉ có trái tim là vẫn tràn máu, và chỉ còn máu để đổ vào thơ. Ôi trời đất mênh mang nhốt một người tù cặm cụi làm thơ. Hay chỉ còn thơ của người tù vẫn lồng lộng giữa đất trời cô quạnh u ám
Ngày ngày nhìn thanh kiếm. Người lặng thinh, kiếm cũng lặng thinh. Trong sự lặng thinh có quá nhiều âm vọng. Tâm sự Cao Bá Quát dằng dặc không khác tâm sự Nguyễn Du. Trong bài Tạp Ngâm, Nguyễn Du viết:
Lưu lạc tráng tâm hư đoản kiếm
Tiêu điều lữ muộn đối thời ca
( Thời ca càng bước càng sầu
Tráng tâm u uất như màu kiếm hoen)
Phải chăng tâm sự của những tay tráng sĩ tài hoa giữa đất trời lưu lạc vẫn là nỗi cay đắng thiết tha với cõi người ta, vẫn là niềm băn khoăn khơi mở cuộc trùng sinh lịch sử ?
Có đêm buồn quá, Cao Bá Quát rọi đèn lần xem tấm áo bông. Tấm áo vợ ông gửi vào từ năm ngoái, có lẽ chính tay bà đã may? Tấm áo bây giờ còn mới hay đã cũ? Ông sờ lần từng đường chỉ mũi kim? Ông lật trong lật ngoài? Nó chỉ là tấm áo bông. Nó ấp ủ thân hình ông những đêm mùa đông xứ Huế. Ôi còn hình ảnh bi tráng nào bằng hình ảnh một trang tráng sĩ chống kiếm rọi đèn sờ lần tấm áo bông cũ trong góc nhà giam! Hốt nhiên ông muốn bật tiếng hú cho vang vọng đất trời. Nhưng ông nín lại. Chỉ có máu đang chảy cuồng nộ trong tâm. Và chỉ có gió đêm se thắt ngoài song ngục. Ông viết: giận vì tâm lực vẫn tràn đầy, mà bị nhốt nằm một chỗ, buồn không chịu được.
Đó cũng là một tiếng hú dài trong bài thơ sau:

ĐỘC DẠ CẢM HOÀI

Tân trướng sinh tàn dạ
Sơ hàn tống miểu thu
Tuế thời song bệnh nhãn
Thiên địa nhất thi tù
Ỷ chẩm khan trường kiếm
Hô đăng kiểm tệ cừu
Cưỡng liên tâm lực tại
Cơ ngọa bất câm sầu

TÂM SỰ TRONG ĐÊM

Con nước ngập nửa đêm về sáng
Gió mùa đông thổi lá tàn thu
Thời gian cứa mắt sưng vù
Đất trời cô quạnh người tù làm thơ
Ngồi câm lặng trơ vơ thanh kiếm
Đốt đèn lên xem áo bông xưa
Giận vì tâm lực vẫn thừa
Mà giam một chỗ, xin thưa: muốn cuồng

tường vũ anh thy 1982
(trích trong Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi - Ức Trai xuất bản 1985)