điêu khắc

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

CAO Bá Quát: về mái nhà xưa




Suốt bao nhiêu năm, đôi lần nhắm mắt tôi lại bị ám ảnh bởi bước chân lạ lùng của Cao Bá Quát. Sau năm 1975, tỵ địa ở Mỹ, tôi càng bị bước chân Cao Bá Quát dẵm vào giấc ngủ. Nhiều lúc bước chân ông mạnh đến độ làm tôi bàng hoàng thức giấc. Có lúc bước chân ông nhẹ nhàng, dìu tôi đi ngây ngất trên đồi núi quê hương. Có lúc bước chân ấy vội vã thúc bách khiến tôi ú ớ khó thở. Cũng có khi bước chân ông vừa vui vừa buồn, nghênh ngang, và ngơ ngác. Nhưng có lẽ điều tôi bị ám ảnh nhất là bước chân lúc ngập ngừng lúc hối hả mỗi khi ông đi xa trở về nhà. Tôi hình dung ra được cả hai bàn chân to lớn, với hai ngón cái và những ngón con. Bàn chân đạp bì bõm trên những thửa ruộng còn ngập nước phèn. Lún trong những vũng bùn đen. Hoặc chìm vào rêu cỏ. Tôi không hiểu tại sao tôi phát khóc khi tưởng tượng ra như thế! Tôi rưng rưng mê mải dõi theo bước chân ông cho đến lúc …trời sáng !
Bấy giờ có lẽ vào khoảng thời gian ông đi công cán trở về được gọi vào Bộ Lễ ít lâu rồi bị thải (1843)  hoặc vào năm thôi làm giáo thụ ở Quốc Oai  (1854).  Mỗi lần về nhà là  mỗi lần ông bị giao động dữ dội. Có lần nóng lòng sốt ruột, thay vì đi đường cái, thì ông băng đồng đi lối tắt cho nhanh. Ta có thể đoán đó là những lần ông đi thi Hội trở về. Lòng trẻ và hồn mơ. Bây giờ ông trở về từ cõi bụi hồng. Lòng già và trí đạt. Hồn ông ngào ngạt tình thương. Ông đi bộ đến làng Đông Dư thì dừng lại ngập ngừng. Ở đầu sông đã thấy thấp thoáng bóng làng ông. Từ xa đã có thể nhận ra nhờ cây gạo cao lớn. Tại sao nhà không còn cách trở nhiêu khê mà chân ông ngập ngừng quá thế ? Mỗi bước mỗi dừng. Không phải vì thiếu người võng lọng lễ nghi quan cách (ông còn lạ gì cái chức tước nghi lễ bề ngoài trong đám quan trường.) Cũng không phải ông chậm bước chờ bạn đến sau. Mà vì gần đây mang nhiều tục lụy. Khói nhân gian đã làm ông đau đớn. Làm mòn mỏi chí trai. Ông không còn cái bồng bột hăng hái thuở thiếu niên nóng bỏng! Trong nhiều bài thơ ông đã nói đến tâm trạng ấy. Không chán nản thất vọng, mà là sự lặng lẽ thong thả của một trung niên hán tử đã từng trải đường đời, việc người. Đường đời cao thấp mịt mờ mây khói. Việc người nóng lạnh thất thường như nắng mưa. Ông vẫn chưa hẹn thật được lúc nào là lúc treo mũ từ quan. Chưa biết chắc đâu là nơi ông về đóng cửa vườn rau. Nhà ông có nửa mẫu ruộng hoang từ lâu không ai dòm ngó, cỏ dại mọc cao ngập đầu. Họ hàng thân thích mỗi ngày mỗi thưa thớt qua lại. Ông biết đối với bà con, chưa có được bữa tiệc bò dê mời họ. Không biết đến bao giờ. Đời ông chỉ toàn là ly biệt. Ông nghĩ đến bước đường bôn tẩu phía trước mà ngùi ngùi. Lòng ông không biết bao nhiêu cơ man tình cảm. Ông lặng lẽ nhìn trời. Trời đã tối rồi, dừng chân nơi đâu. Có lẽ ông sẽ ngủ trọ ở làng Đông Dư này thôi.

Sa hành đễ Đông Dư, ký mộ lưu túc

Giang đầu vọng cố hương
Cố hương vị tu trở
Như hà hành bất tiền
Nhất bộ nhất diên trữ
Phi quan phạp dư lệ
Ninh vị đẳng trù lữ
Cận lai phụ tục lụy
Tráng đồ bán tiêu tữ
Thế lộ canh yên vân
Nhân sự như hàn thử
Vị hữu quải quan kỳ
Sài môn tại hà hử
Bán mẫu cựu điền viên
Vu uế dĩ bất cử
Thân thích nhật dĩ sơ
Hà thường tốc phì trữ
Niệm biệt trướng tiền đồ
Mặc mặc bất dục ngữ
Nhật mộ vô định tung
Do vi dị hương xứ.

Đêm ngủ trọ làng Đông Dư

Bến đầu sông trông về cố quận
Làng ta kia kề cận tấc gang
Dùng dằng sao chẳng lẹ làng
Bước lên một bước trăm đàng ngổn ngang
Không phải vì thiếu người võng lọng
Không phải vì ngóng vọng bạn bè
Mà vì tục lụy não nề
Chí trai mòn mỏi ước thề phôi pha
Cuộc trần thế mây sa mặt sóng
Cõi người ta lạnh nóng vô thường
Bao giờ cởi mũ quan trường
Về đâu đóng cửa rào vườn ẩn cư
Nửa mẫu ruộng từ xưa còn đó
Cỏ dại đầy chả có ai chăm
Họ hàng thưa thớt mỗi năm
Lợn dê chưa mổ đãi đằng được nhau
Chuyện ly biệt lòng đau quằn quặn
Lòng dặn lòng im lặng là hơn
Ngần ngừ trời tối trống trơn
Đêm nay đành trọ trong vườn làng Đông Dư.

Làng Phú Thụy có một cái gò cao đặt tên là gò Chương Sơn. Trong bài Đắc Hà Thành cố nhân thư thoại…ông đã nhắc đến:
Vấn tấn Chương Sơn cựu ẩn thôn
Cao đường vô dạng lưỡng nhi tồn
Lục niên sinh tử phù trầm địa
Nhất chỉ giao du cảm khái ngôn
Kim cổ sự đa tu thức định
Văn chương đạo tiểu lại cùng tôn
Diệc chi hệ vật phi trường sách
Đầu bạch qui lai dã bế môn

Đây là thư gửi bạn, trả lời thư bạn ở Hà Nội, báo tin về gia đình ông, và hỏi thăm thơ phú của ông. Ôi được tin gò Chương Sơn nơi quê cũ đó, bố mẹ vẫn bình yên, hai con nhỏ còn khỏe mạnh. Đã sáu năm qua, trôi nổi sống chết trong cõi bụi hồng, tôi mượn giấy bút gửi lời cảm khái bạn bè. Việc xưa nay, sau trước, phải định tâm tĩnh trí, suy xét cho cùng. Nghiệp văn chương tuy không lớn (văn chương là đạo nhỏ) nhưng lúc cùng, nhờ đó mà thanh tao. Hỡi ơi! Biết dấn thân vào cõi thị phi không phải là kế bền lâu, nên lòng này vẫn hẹn đến khi đầu bạc sẽ về lại quê gò đó ẩn cư.

Thư gửi bạn ở Hà Nội

Biết tin quê gò Chương Sơn ấy
Bố mẹ còn ai nấy bình yên
Sáu năm chìm nổi triền miên
Đôi giòng gửi bạn nỗi niềm nhớ thương
Việc xưa nay phải thường tỉnh táo
Chuyện văn chương cơm áo đôi đường
Đem thân vào chốn đoạn trường
Hẹn khi tóc bạc về vườn ẩn cư

Câu “lục niên sinh tử phù trầm địa” là một chi tiết để ta đoán được ông làm bài này ở Quốc Oai vào khoảng năm 1853. Vì tính từ năm 1847 là năm ông trở lại làm việc ở Huế, đến năm 1852 đổi đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, và mãi đầu năm 1854 ông mới được về quê. Đây cũng là chi tiết quan trọng để ta tìm hiểu tâm sự của ông vào những ngày tháng cuối cùng. Hình như ông nghĩ nhiều về sự từ biệt cõi đa đoan, về ẩn nơi quê cũ ? Có lẽ ít người tha thiết về làng xưa như Cao Bá Quát. Bài Gặp Lại Làng Xưa (Tương Đáo Cố Hương) ông đã vẽ lại cảnh làng ông và tâm sự của ông:

Tương Đáo Cố Hương

Cao cao mộc miên thụ
Cổ cán hà thanh sơ
Thiều thiều vọng thử bang
Quyết hữu cao nhân lư
Trúc mật phú dư kính
Thảo phong nhiễu tiền trừ
Bích chiểu hí tiêm lân
Lục đằng tú gia sơ
Y tích truyền kinh xứ
Yển tức thứ hữu dư
Thanh nhàn duy thủ chuyết
Ngô khế tại huyền hư
Tự bão khuê tổ thượng
Cách vi khâu hác cư
Tuế cửu vị qui khứ
Chỉ ưng úy giản thư
Tiêu tiêu hoàn đáo thử
Mạch mạch dục hà như
Tố tâm kỳ bất phụ
Lai giả khả truy dư

Kìa cây gạo cao vòi vọi. Gốc đã già mà cành ngọn xanh tươi. Xa xa nhìn vào làng của bậc “cao nhân” ở đấy, thấy trúc tre đan kín lối đi về. Thấy cỏ thơm xanh rợn một thềm thơ. Thấy tung tăng cá lội trong ao biếc. Thấy lúa đồng dào dạt ngạt ngào. Đó cũng là nơi ta dạy học thuở xưa, nơi ngơi nghỉ tuyệt vời. Hỡi ơi chốn quê mùa mộc mạc chính là chốn lòng ta thơ thới thanh nhàn. Hồn ta gửi mãi vào mây trắng xa xôi. Ôi có ngờ đâu từ khi đeo ấn làm quan, ôm chí “lo trước vui sau” trong cõi nhân gian, mới phải xa quê nhà, rời thôn ổ. Đằng đẵng bao tháng năm chưa được trở về mái làng xưa, chỉ vì sợ lệnh vua phép nước. Nay đã bơ phờ tóc bạc, khi trở về dằng dặc băn khoăn, bâng khuâng như vừa thua một cuộc cờ. Lòng tần ngần thầm mong nỗi niềm xưa không ruồng rẫy tấm thân này, bởi vì tấm thân này thầm hẹn sẽ không còn cuộc trùng sinh lầm lạc lúc ra đi.

Gặp lại làng xưa

Kìa cây gạo vươn cao vẫn đó
Gốc đã già ngọn ngó vẫn thanh
Vời trông phong cảnh trong làng
Trong làng có cửa có nhà “cao nhân”
Tre trúc tốt quanh sân đầy ngõ
Cỏ tươi tươi cười rõ mặt thềm
Ao sâu cá lội êm đềm
Lúa thơm phơi phới khắp miền đồng xanh
Nơi dạy học trong lành xưa cũ
Cũng là nơi lam lũ nghỉ ngơi
Quê mùa cuộc sống thảnh thơi
Lòng quê theo áng mây trời xa xa
Kể từ buổi vào ra thư kiếm
Mới đổi dời thôn điếm gò hang
Bao năm chưa được về làng
Một lo việc nước hai quàng lệnh vua
Nay phờ phạc như thua một cuộc
Trở về nhà thân thuộc nôn nao
Mai sau dù có thế nào
Bước chân tấc dạ xin chào nhân gian.


tường vũ anh thy 1982
(trích trong Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi - Ức Trai xuất bản 1985)


Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

tâm lệ

thời gian khép mở như hơi thở
kẻ ở người đi mấy cũng thương
mon men bước lại phương trời lạ
bạt ngàn sóng vỗ mộng bay bay
gió mặn đầy hai tay
say say ngoài khóe mắt
có tiếng chim nhắc vội chiều hôm
ở trên đầu núi mây còn sáng
dội xuống bình nguyên vạn nhớ nhung
mông lung biển thẫm vào vô tận
ba vì sao mọc giữa hư không
đố ai biết được sao là lệ
lệ rớt trong lòng lệ nở hoa

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

lúa ba trăng

lúa ba trăng hà tĩnh
nở thành gạo qui nhơn
đê thái bình đổ lụt
chảy lên rừng cao nguyên
trên đỉnh hoàng liên sơn
thấy đồng bằng sông cửu
khói sương trời đà lạt
rơi một hạt cúc trai
giữa hai bờ giếng giêng hai
mắt ai ngăn ngắt tình ai chập chùng

trăng soi giếng cũ trăng lùi lại
nước gặp trăng xưa nước ngậm ngùi
ở bên này núi trăng còn sáng
cuối cánh rừng kia đã tối sầm
tối rồi một cánh chim hờ hững
bay ở cà mau lững thững buồn

lúa ba trăng hà tĩnh
nở thành gạo qui nhơn
biển thái bình phan thiết
vỗ miết bờ quê hương
núi đồi trăm nhớ ngàn thương
nhớ trăm nỗi nhớ ngàn thương phận người

tvat 18/3/89

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

mưa bất chợt trưa chủ nhật ở san jose


mưa ở đầu thu em ở đâu
giọng mưa rất khẽ ngoài hiên nhà
ta ngồi trong mộ-đời-lưu-lạc
thấy tầng mây thấp phủ bàn chân
ta chờ mộ mở chờ tim mở
nở hộ ta một đóa tơ mưa
những giọt mưa bỗng thành giọt nhạc
dạo khắp không gian tiếng nổi chìm
ta nhìn trong đáy ly vàng óng
thoáng bóng ta nhòa theo bóng chim
tơ mưa vương vấn như tơ rượu
rượu hết chai còn hương vẫn say

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Nguyễn Du, và Người Đàn Hát Thành Thăng Long




Quan tổng trấn (tuyên phủ) thành Thăng Long bấy giờ là Nguyễn Văn Thành, nhân dịp phái đoàn Nguyễn Du đi sứ, qua Bắc Hà, bèn tổ chức một buổi văn nghệ tiếp đón. Đây cũng là dịp để một số cựu thần nhà Lê gặp gỡ. Nguyễn Du từng dự rất nhiều cuộc trình diễn văn nghệ, và ông rất thích. Nhưng lần này tâm hồn ông còn xao xuyến về cuộc đổi đời, còn ngậm ngùi về cuộc thay tên, nên tuy dự tiệc mà lòng ông hiu hắt xa xôi. Lại nữa, trên những khuôn mặt phấn son diêm dúa kia, trong lối phục sức xa hoa nọ, cùng tiếng đàn giọng hát xa lạ, càng làm ông thờ ơ lãnh đạm. Nguyễn Du rất sành âm điệu, ông đã từng đánh trống, cầm phách, thổi tiêu và gẩy đàn. Ông nhận thấy các đội nữ nhạc thay nhau múa hát đêm nay, rặt một điệu tầm thường nhàm chán.
Hình như mỗi lần nghe hát là mỗi độ bùi ngùi, Nguyễn Du lại mơ màng về dĩ vãng xa xăm. Trong cái không khí ồn ào tưng bừng của buổi tiệc văn nghệ hôm nay, kẻ nói người cười, ông chợt thấy mình thực sự là một kẻ xa lạ, vĩnh viễn lạ xa…Nguyễn Du toan tìm cách ra ngoài thì tai ông chợt rung lên một nốt nhạc trong trẻo : tiếng đàn Nguyễn – đàn cầm!
Đó là tiếng đàn rất thịnh hành ở phủ chúa Trịnh ngày xưa. Bất giác Nguyễn Du đảo mắt tìm người đánh đàn. Mãi cuối chiếu của một sân khấu thu hẹp, ông nhận ra một người đàn bà gầy gò tiều tụy. Nàng mặc toàn một thứ vải thô bạc thếch và vá nhiều mảnh nhỏ. Mười ngón tay nàng xạm đen lặng lẽ gẩy đàn. Tiếng đàn càng ngày càng êm dịu và thân thuộc. Ông không thể lầm được: đó ắt phải là khúc nhạc Cửa Quyền. Nàng là ai ? Khuôn mặt nàng cũng xạm đen đầy vẻ dãi dầu, mái tóc lốm đốm hoa râm phơ phất, toàn thân nàng như một cây chuối khô giữa mùa đông giá. Nàng chẳng hề nói, chẳng hề cười. Nhưng tiếng đàn lại tươi như mùa xuân và thân quen như cỏ xanh.
Lòng tôi bỗng rưng rưng. Tiếng đàn cầm trôi nổi bồng bềnh như ru tôi về với giấc mộng xa xưa, như xô tôi tới cuối trời mây trắng. Bây giờ là tháng giêng ở Thăng Long. Ngoài kia trăng chắc là sáng lắm.
Bữa tiệc rồi cũng tàn. Đêm vui rồi cũng hết. Nguyễn Du nao nức  cố tìm cách gặp người đàn bà gẩy đàn cầm. Trong cái không khí nhốn nháo chào hỏi tan hàng, ông đến được nơi người đàn bà ấy. Ông dịu dàng nhìn vào đôi mắt nàng. Đôi mắt ấy nghẹn ngào cúi xuống. Mái tóc hoa râm như cánh rừng thưa trụi lá. Đôi vai nàng như đôi vai của một cánh chim gặp mưa giữa trời bão tố. Ông vẫn dịu dàng nhìn nàng – nhìn những phương trời thăm thẳm nỗi phôi pha. Ngày xuân mòn mỏi má hồng phôi pha. Nàng ngập ngừng, không nhìn lại ông, nhưng ông nghe rất rõ tiếng nàng hỏi:
-      Ngài có phải là cậu Bẩy con quan cố Tham Tụng không?
-      Vâng…
Vâng! Chính tôi là người ấy. Chính người ấy là tôi…
-      Vâng! Cô Cầm ???
-      Vâng…
Ôi Cầm Nương! Chính là nàng! Tôi vẫn ngờ ngợ là nàng. Nhưng mà trời ơi rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.
Tại sao lại là Cầm Nương được chứ? Người nữ danh ca ấy ở Thăng Long không ai biết rõ tên họ. Thuở nhỏ nàng học đàn cầm trong đội nữ nhạc ở cung vua Lê. Vì thạo đàn cầm nên người ta quen gọi là Cầm Nương. Khi Tây Sơn kéo quân ra chiếm Bắc Hà, các đội nữ nhạc nhà Lê, người chết, kẻ lưu lạc. Nàng vẫn ôm giữ cây đàn trăng. Vì những khúc hát nàng thuộc toàn là các khúc cung phụng gẩy cho vua nghe, người ngoài không hề biết, nên tài nghệ và tiếng tăm  nàng nổi nhất một thời.
Bấy giờ tôi còn trẻ (25 tuổi) thỉnh thoảng về Thăng Long thăm anh Nguyễn Nễ, ở trọ gần Giám Hồ (hồ Gương). Gần đấy, quan quân Tây Sơn thường mở những cuộc hát lớn, toàn là danh ca lộng lẫy, hàng vài chục người. Nàng nhờ tiếng đàn cầm mà nổi tiếng là đệ nhất danh ca Bắc Hà. Nàng vừa hát hay, lại vừa khéo nói khôi hài. Nàng còn có thể sáng tác những khúc ca mới phổ vào cây đàn Nguyễn. Khắp mặt tướng sĩ Tây Sơn đều mê đắm điên đảo, đua nhau thưởng từng bát rượu, nàng uống hết ngay. Tiền thưởng cùng với gấm vóc lụa là đầy mặt đất. Tôi đứng trong bóng tối, nhìn không rõ mặt nàng. Mãi sau mới gặp ở nhà anh tôi. Người nàng thâm thấp, má bầu, nhan sắc không phải là chim sa cá lặn, nhưng trắng trẻo đầy đặn, khéo trang điểm, lông mày thanh, áo hồng, quần lụa cánh chả hay xanh nhạt đầy vẻ phong nhã. Nàng ưa uống rượu, pha trò, đôi mắt long lanh kiêu sa như không để mắt tới ai. Tôi có nhiều dịp uống rượu và chơi thuyền cùng nàng…
Sau đó vài năm tôi dời nhà về Nam, từ đó không gặp nàng…
-      Cô Cầm! Thế rồi sau đó ra sao ?
-      …nay tuổi đã già, sắc đã nhạt, thiếp thuê tạm gian nhà lá ở ngoại thành. Thỉnh thoảng các quan yến tiệc, hay dân gian tế lễ, lại tìm thiếp đến hát. Than ôi! Giang hà nhật hạ, món tiền thù tặng ít ỏi, nhưng cũng nhờ đấy làm kế sinh nhai cho qua ngày đoạn tháng. Thiếp nghĩ tủi phận mình kém người ca nữ trên bến Tầm Dương…
Nàng kể giọng sập sùi. Ông lặng người đi.
Than Ôi! Người nữ danh ca ấy sao ra nông nỗi thế! Nguyễn Du bồi hồi. Lại suốt đêm ông không yên giấc. Ông cứ đi ra đi vào, ngẩng lên cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa và cảnh nay. Trăm năm trong cõi người ta, cái vui cái khổ khéo là đắng cay. Trải qua một cuộc đổi thay, những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ này, sau khi từ biệt, khiến ông cảm thương vô hạn. Trên đường đi sứ, trước khi vào đất Trung Hoa, Nguyễn Du làm xong bài trường ca: 

Long Thành Cầm Giả Ca

Long thành giai nhân
Tính thị bất ký thanh
Độc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung "cung phụng khúc"
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh

Dư ức thiếu thời tằng nhất kiến
Giám Hồ hồ biên dạ khai yến
Kỳ thời tam thất chính phương niên
Hồng trang yểm ái đào hoa diện
Đà nhan hám thái tối nghi nhân
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm
Thanh như song hạc minh tại âm
Liệt như Tiến- phúc -bi đầu toái tích lịch
Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mĩ mĩ bất tri quyện
Tiện thi trung- hòa đại nội âm

Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri bão
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng vương hầu
Ngũ -Lăng thiếu niên bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoạt tố Trường An vô giá bảo

Thủ tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiến
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trụng mãi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
Nhan sấu thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn mi bất sức trang
Thùy tri tựu thị đương thời thành trung đệ nhất diệu


Cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ tịch trung tằng kiến chi

Thành quách suy di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
Ca vũ không di nhất nhân tại
Thuấn tức bách niên năng kỷ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam hà qui lai đầu tận bạch
Quái để giai nhân nhan sắc suy

Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri

Bài Ca Người Gẩy Đàn Thành Thăng Long

Rằng thưa người đẹp Long thành
Họ tên không rõ rất rành cầm chương
Khắp thành đều gọi Cầm Nương
Một cung “phụng khúc” còn nhường cho ai
Khúc từ triều trước cung ngai
So ra tiên giới trần ai nào bằng

Nhớ ta hồi trẻ gặp nàng
Hồ Gương dạ tiệc tuổi vàng đôi mươi
Xiêm hồng ánh mặt càng tươi
Rượu nồng nồng đượm càng mười phần ưa
Năm cung thánh thót tay đưa
Khoan như gió thoảng trên rừng thông xanh
Trong như tiếng hạc mây lành
Mạnh như tiếng sét tan tành đá bia
Buồn như Trang Tích xưa kia
Ốm đau tiếng Việt đầm đìa hát ngâm
Người nghe như nín như câm
Ấy đàn cung cấm ấy âm trung hòa

Tây Sơn văn võ mấy tòa
Thâu đêm say đắm la đà chứa chan
Kẻ quăng người ném tiền ban
Nghìn vàng như thể tro tàn đất nâu
Hào hoa rất mực vương hầu
Ngũ Lăng bọn trẻ còn lâu mới bì
Nàng đà vô giá kinh kỳ
Với băm sáu ngón xuân thì kiêu sa

Hai mươi năm thấm thoát qua
Tây Sơn thua trận còn ta lìa nhà
Từ Nam ngàn dặm trăng tà
Thăng Long không thấy huống là tiệc hoa
Nay quan tuyên phủ tiếp ta
Họp thương nữ trẻ hát ca vang lừng
Nhác trông một vẻ ngập ngừng
Hình dung tiều tụy lưng chừng tóc râm
Phấn son nhạt nét mi tàn
Nào ai biết đấy tiếng đàn không hai

Khúc xưa lời xoáy bên tai
Lặng nghe tê tái như mài ruột gan
Nhớ ra hai chục năm dài
Giám Hồ thuở đó một nàng ở trong

Người dời thành đổ quách long
Ruộng dâu một sớm vào lòng biển xanh
Tây Sơn nghiệp sạch sành sanh
Còn trơ khúc hát võ vàng ca nhi
Trăm năm chớp mắt ra gì
Thương tâm chuyện trước khóc vì chuyện sau
Ta về đầu bạc như lau
Giai nhân sắc cũng phai màu xuân tơ

Rõ ràng mở mắt còn ngờ
Buồn sao gặp gỡ thẫn thờ không hay


Lời thơ phảng phất những u tình đồng vọng trong thơ Bạch Cư Dị với người ca nữ bến Tầm Dương, và ngậm ngùi bi tráng  trong thơ Tô Đông Pha với bài Phú Xích Bích. Than ôi, những sự nghiệp anh hùng nay còn đâu! Chỉ có tiếng đàn cầm của người cung nữ thành Thăng Long để đẩy lịch sử ra khỏi biên giới của thi ca, dìu giai nhân sang bên kia bờ bến mộng, mà đôi chân của thi sĩ vẫn lẽo đẽo trên đoạn đường lữ thứ…
Phải chăng thi sĩ đã thấy mình đi như là đi mãi – đi đến kỳ cùng cuộc lữ. Thi sĩ thấy mình sinh ra là để đi - là định mệnh không bến bờ dù lịch sử vẫn đổ dồn như ngàn sóng nhấp nhô. Đôi cánh thơ chở theo những tâm tình đồng vọng vẫn bay miết qua cõi điêu tàn hoang phế - bay trong khói lửa ly loạn – trong giông bão cuồng xô – để hốt nhiên biến tan thành giấc mộng lồng lộng gió tà huy
Em về rũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà huy bay
(thơ Bùi Giáng)

Tường Vũ Anh Thy – trích trong THI ĐIỆP NGUYỄN DU 1982

Lời thêm: những sự kiện trong bài tôi đều viết theo lời dẫn của Nguyễn Du, và tham khảo theo cuốn Việt Nam Ca Trù Biên Khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Hòe, Sài Gòn 1962. Bài thơ này của Nguyễn Du cũng khởi hứng cho tôi viết thành truyện ngắn Phương Trời Thăm Thẳm .


Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Nguyễn Du: Thăng Long, ngày tôi trở lại





Bấy giờ là mùa xuân năm quí dậu 1813. Trời tháng giêng đất bắc có mưa nhẹ và gió lùa. Nguyễn Du cùng phái đoàn từ Huế vào Thăng Long để chuẩn bị đi sứ sang Trung Hoa.
Thăng Long! Kinh Thành Ly Biệt! Thoắt đã mười mấy năm trời! Kể từ độ đất nước điêu linh nội loạn, rồi vó ngựa chinh chiến của nhà Tây Sơn năm bính ngọ 1786, Thăng Long chìm trong khói lửa, nước mắt, máu, và phân ly. Rồi những ngày tháng biền biệt trôi đi trong kinh hoàng khắc khoải, Thăng Long chỉ còn là dĩ vãng. Hình ảnh một kinh đô huy hoàng từ thời Lý (1011) với giấc mơ cha Rồng về dựng nước đã sừng sững trong lịch sử bi hùng của dân tộc còn văng vẳng xa xăm! Trong đôi mắt đăm đăm thăm thẳm của Nguyễn Du, hình như Thăng Long mãi mãi vẫn là một kinh đô vàng son độc lập, là tiếng gọi thiêng liêng thắm thiết. Nơi đó, ông đã sống, và đã lớn lên. Sau cuộc thất bại thê thảm của giòng họ Trịnh năm 1786, đến chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung phá tan 20 vạn quân Thanh năm 1789, Nguyễn Du phải lưu lạc nơi Thái Bình quê vợ. Vào những năm 1790-1793, một người anh của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ cộng tác với Tây Sơn. Thỉnh thoảng Nguyễn Du vào thăm anh để có dịp nhìn Thăng Long với những tang thương ngậm ngùi. Những lần ấy ông đã thấy cảnh tướng tá nhà Tây Sơn điên đảo trác táng bên các mỹ nữ ả đào còn sót lại từ phủ chúa Trịnh…sự thực hãi hùng và bi đát của các cuộc đảo chính chớp nhoáng cướp chính quyền, cũng như đằng sau sân khấu của phủ chúa đã làm Nguyễn Du ngao ngán thất vọng… cho đến khi vua Gia Long vời ông đi theo đoàn quân tiếp thu Thăng Long 1802…
Vua Gia Long không ở Thăng Long mà đóng đô ở Phú Xuân. Năm 1805, nhà vua ra lệnh phá bỏ tất cả thành Thăng Long để xây lại một tòa thành khác cũng ngay trên nền các cung điện cũ. Do đó bây giờ trở lại Thăng Long, Nguyễn Du không còn nhận ra cố đô. Ông đã gần 50 tuổi rồi. Đầu đã bạc từ khi trăng là nguyệt. Ông bùi ngùi, hốt hoảng đi dạo khắp Thăng Long. Hình như núi Tản Viên vẫn sừng sững, và giòng sông Lô vẫn lờ lững vờn quanh. Những căn nhà xưa đã không còn nguyên vẹn, và nhiều con đường xưa giờ đã thay tên. Thăng Long ơi! Ta mất người như người đã mất tên…
Nguyễn Du đi giữa trời Thăng Long như giữa lòng đổ nát. Làm sao tìm gặp lại thân quen. Ông hồi hộp và rón rén đi vào những con đường trong trí nhớ ngoại ô để thẫn thờ thấy những thiếu nữ ngày xưa giờ đã tay bồng tay mang nặng nhọc, những bạn bè hào hiệp ngày nào đã lụ khụ trong vẻ sợ sệt chiều tà. Ông đi và đi lạc. Lạc giữa một buổi chiều Thăng Long xa lạ và tàn nhẫn. Một không gian mà ông nhớ ông thương ông ấp ủ ông dằn vặt… suốt mười mấy năm trường, bây giờ gặp lại, giữa chiều tháng giêng bỗng ngỡ ngàng vô kể. Ông không thể tưởng tượng được mới ngần ấy năm mà Thăng Long đã biến đổi đến thế! Có lẽ tại vì lòng ông vẫn là một tấm lòng thi sĩ ngày xưa? Hay có phải chính ông là một khách lạ? Trẻ con ở Thăng Long nhìn ông muốn hỏi ông từ đâu đến?
Đêm ấy Nguyễn Du bâng khuâng khó hiểu. Lòng ông vừa rạo rực bồi hồi, vừa xót xa cay đắng, lại vừa mơ mộng vẩn vơ. Ông trằn trọc. Ngoài trời trăng sáng. Trăng tháng giêng Thăng Long, ông nghe văng vẳng tiếng sáo mơ hồ. Trăng đem tiếng sáo tới hay tiếng sáo đưa trăng về?
Thăng Long I
Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng.
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.
Thiên niên cự thất thành quan đạo,
Nhất phiến tân thành một cố cung.
Tương thức mỹ nhân khan bão tử,
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy,
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.

Núi Tản sông Lô muôn đời ấy
Bạc đầu còn được thấy Thăng Long
Phố nhà lộn đảo lòng vòng
Một tòa thành mới nát lòng cung xưa
Những người đẹp con đưa con bế
Bạn bè xưa lê lết về già
Một đêm thao thức như là
Sáo khuya trăng sáng trăng tà sáng sao

Bài thơ vừa làm xong, Nguyễn Du lập tức mở cửa đi lững thững ra ngoài. Hình như khắp không gian đều lên mùi rêu nhớ. Nguyễn Du đã trằn trọc vì một mùi rêu? Thưa không, ông trằn trọc chính vì một vầng trăng.
Ba mươi năm kiếp lưu đày
Chân trời góc biển xum vầy vẫn trăng
(bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu)
Ông đã tự coi mình là bạn với vầng trăng sáng – mà vầng trăng thì đời đời bất tuyệt (bài Đạo Ý). Trăng đêm nay cũng là trăng thuở ấy. Duy có nhà cửa thành quách của Thăng Long không phải là thành quách nhà cửa của Thăng Long thuở ấy. Trăng soi sáng khắp thành Thăng Long mới. Ánh trăng la đà. Lòng Nguyễn Du cũng la đà. Nguyên một ngày dài dạo khắp Thăng Long, giữa những đường phố mơ hồ về trí nhớ, giữa những bản nhạc mới được chơi tạp lục khắp nơi, ông hoàn toàn không nhìn thấy Thăng Long của lòng ông thuở ấy…
Ai mất ai còn ai lặn lội
Tìm trong ký ức xa xôi
(thơ Nguyễn Chí Thiện)
Nguyễn Du nghe ra một vầng trăng rướm máu. Tóc ông đã bạc từ lâu… Cuộc đời vốn là trường gió tanh mưa máu của những cuộc tranh cướp đảo chính và bóc lột, chung qui bởi miếng cơm manh áo và cái danh hão danh huyền. Lên voi hay xuống chó…nay có mai không. Ông cũng đã thấy lịch sử thăng trầm, quyền ngai như ngọn cờ trương lên và kéo xuống, như buổi sáng ra mắt dàn chào để buổi chiều lột áo đi chui (xem Hoàng Lê Nhất Thống Chí) thế sự ấy nên cười hay nên khóc? Đối với Nguyễn Du, hình như vầng trăng đã vừa soi sáng lại nơi tâm hồn ông cái vĩnh cửu và cái vô thường ông ấp ủ. Thế nhưng lỡ từ lạc bước bước ra…
Thăng Long II
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành,
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh.

Trăng xưa chiếu sáng ngôi thành mới
Thăng Long ơi ới thủ đô xưa
Lạc trong phố thị xây bừa
Lạc trong đàn sáo mới vừa tạo ra
Danh lợi người đời là tranh cướp
Mất còn thân thuộc mướp trơ xơ
Than chi cuộc sống chơ vơ
Cùng ta tóc bạc phất phơ giữa trời

Hai bài thơ Nguyễn Du làm để mở đầu cho  tập  Bắc Hành Tạp Lục, cũng để mở ra một phương trời cô lữ của một người  dám nhận mình là người. Ông trở về Thăng Long, nhìn lại Thăng Long, đi giữa Thăng Long, để đối diện với một thực tại bẽ bàng hơn ông tưởng, để từ đó…
Người đã định một lần thôi để hỏng
Đường vu vơ về chốn cũ trăm năm
Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng
Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm
( thơ Bùi Giáng )

TVAT ( trích Thi Điệp Nguyễn Du, San Jose 1982)

Lời thêm: có những chữ, những câu in nghiêng trong bài là lấy từ thơ, từ nhạc, hoặc từ văn, từ ca dao tục ngữ...đã quen thuộc, nên không ghi xuất xứ.Thi Điệp Nguyễn Du phần lớn đã đăng trên tạp chí Nhân Văn, phát hành ở San Jose từ những năm 1982-1983, nay có sửa đổi, nhất là lỗi chính tả.