điêu khắc

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

CHỬ ĐỒNG TỬ : Vô Lượng Thọ Phần II


TỪ CÁI KHỐ ĐẾN BÀI HỌC THIÊN NHIÊN



            Có một chi tiết trong “Ngày của Trái Đất” là người ta kêu gọi bớt dùng đồ nylon, đặc biệt cái tã nylon (diaper). Hợp chất chế tạo tã nylon có công dụng không thấm nước, không mục rữa. Tã nylon rất tiện lợi cho … người lớn, nhưng rất bất lợi cho trẻ em và …trái đất ! Lý do: trẻ em nhiều lúc phải chịu đựng cái bọc bế tắc đầy phân và nước tiểu. Xác tã nylon thải ra mỗi ngày hàng triệu cái, trái đất không tiêu thụ nổi vì nó lâu mục rữa quá: hàng trăn năm !
            Những lý do người ta nêu ra đó, thiếu một điều quan trọng: bài học thiên nhiên về tình người . Bài học này cũng là phương pháp giáo dục truyền thống.
            Con người sinh ra, chịu ảnh hưởng huyết thống, địa lý, lịch sử, văn hóa…Sự ảnh hưởng đó tự nhiên, như …thiên nhiên . Đứa bé nhận và hưởng “công ơn bú mớm” của cha mẹ như một điều kiện sống. Càng nhận nhiều bao nhiêu, đứa bé càng thâm cảm bấy nhiêu. Cả sự cho và sự nhận đều rất tự nhiên, trong sáng, và đầy ân tình. Ở đây không có lý trí kể lể, không có tư doanh hay quốc doanh… Bởi vì cha mẹ cung cấp cho con cái những nhu cầu kinh tế, lao động, dù nhiều bao nhiêu cũng là nhỏ so với … một tấm lòng. Tấm lòng ấy thể hiện ngay trong việc … thay tã. Vì là tã vải, ướt một tí cũng phải thay. Tất nhiên cha mẹ rất vất vả, nhất là gặp thời kỳ con nhỏ có bệnh. Nhưng bù lại, đứa bé cảm nhận được tấm lòng ấy, để sau này nó biết ăn ở phải đạo làm người . Sự kiện thay tã (sau này là nhường khố ) là cái vòng nhân duyên từ ái như một bài học tự nhiên. Chính nhờ đó mà em bé Gióng vụt lớn thành Phù Đổng Thiên Vương giúp nước , đánh giặc. Chính nhờ đó mà Chử Đồng Tử và các trẻ em Việt Nam biết nhường cơm xẻ áo với người .
            Dùng tã nylon (diaper) là sự “ ăn bớt” công ơn bú mớm của trẻ em. Từ sự “ăn bớt” ấy, đứa trẻ cũng sẽ “ăn bớt” với đời sống sau này. Dĩ nhiên, tã và khố ở đây chỉ là chi tiết, biểu tượng về một hành động “nuôi dưỡng”, một sự giáo dục truyền thống, có tính cách thiên nhiên [1]
            Trên đây ta mới bàn về chuyện người , còn chuyện đất ? Xin thưa, quả đúng như báo cáo khoa học: trái đất không tiêu thụ nổi xác tã nylon, cũng như nhiều đồ phế thải “hóa học” khác. Trái đất sẽ mất đi biết bao nhiêu khả năng “nuôi dưỡng” con người . Ở đông phương, người ta có khoa địa lý, tìm đất để táng mộ. “ Để thử đất huyệt táng tốt hay xấu, họ dùng chỉ ngũ sắc chôn xuống đất độ vài năm rồi đào lên xem. Hễ đất tốt thì sắc chỉ không phai, đất xấu thì sắc chỉ biếm màu hết. Họ cũng lấy đồ đựng nước , bỏ cá con vào nuôi, rồi chôn xuống đất vài năm. Hễ cá sống là đất tốt, cá chết là đất xấu. Vì vậy xem cây cỏ tươi hay héo cũng biết được đất tốt hay xấu “ [2]. Người Việt rất tin địa lý. Sự tin tưởng này kéo theo sự yêu người và yêu đất . Tình yêu ấy được thể hiện trong việc thờ cúng tổ tiên. Người ta tin rằng chết không phải là hết, mà về với tổ tiên vọng tộc. Tin tưởng đến độ thành tục ngữ:

                        Sống về mồ về mả
                        Chẳng ai sống về cả bát cơm

            Quan niệm tâm linh này đã bao dung mọi lý thuyết kinh tế tư bản và vô sản. Bát cơm tuy trọng, nhưng mồ mả đời sau còn trọng hơn.

                        Sống mỗi người một nhà
                        Già mỗi người một mồ
           
            Đó là tất cả vẻ đẹp của đời sống , dung hòa một nền kinh tế thịng vựơng ( có nhà ở) và thế giới tâm linh tròn đầy (có mộ phần). Nhà ở và mộ phần liên hệ gắn bó như anh em song sinh. Bởi vậy, gia đình có chuyện chẳng lành, người ta vẫn lo lắng: “Hay là động mồ động mả chăng?” .
            Đó cũng là tình yêu đất. Sống cũng do đất, chết cũng do đất . Người Việt có tinh thần yêu thiên nhiên và làm đẹp trái đất rất cao. Nhiều chuyện cổ tích, vì không giết họai lòai vật, không chặt bừa cây cối, không phá họai thiên nhiên, mà các nhân vật gặp nhiều may mắn.
            Riêng chuyện Chử Đồng Tử cũng như ba người con hiếu thảo kia, không nỡ để bố chết trần truồng, dù bố đã nhường khố , nhưng các con lại nhường lại. Sự nhường đi nhường lại ấy nói lên biết bao tình cảm thắm thiết giữa kẻ sống, người chết. Có lẽ ông bố nghĩ thế này: “ mình là bố, sống đã không lo nổi cho con cái khố, thì chết truồng là phải. Để khố cho con mặc đỡ xấu hổ với đời. Mình chết truồng như tự phạt, quỳ lạy tạ tội với tổ tiên.” Chử Đồng Tử và các người con có lẽ nghĩ rằng: “ Bố về với tổ tiên mà trần truồng thì còn mặt mũi nào nữa. Các con sống mà để bố như vậy thì sau này không đáng chết. Thôi cứ mặc khố cho bố . Bề nào cũng khổ. Nhưng rồi sẽ liệu sau. Với lại … sống về mồ về mả…”. Trong một quốc gia mà mọi người nghĩ về nhau như thế, thì quốc gia ấy hẳn có giá trị đạo đức như thế nào? Và tương lai quốc gia ấy phải như thế nào? Bài học thiên nhiên về tình người chính là nền giáo dục truyền thống mà Chử Đồng Tử đã được hưởng. Và ông đã phát huy sự giáo dục đó. Nó có ý nghĩa nền tảng của Đạo Tự Nhiên mà ông chính là … đạo chủ.

GIỮA NÓN VÀ GẬY

            Để cha mình mặc khố đem chôn, Chử Đồng Tử đã mong muốn ngược lại lời khuyên của cha: cha sẽ không bị xấu hổ ở thế giới tâm linh. Khố và xác thân người ta sẽ tan theo thời gian trong lòng đất . Nhưng ý tưởng nhường khố vĩnh viễn thường trụ trong không gian. Khi không có khố , Đồng Tử trần truồng thân xác giữa trần gian. Nhưng tâm hồn ông đầy ắp tình cảm văn hóa truyền thống. Trong truyện cổ dân gian, xác người cha chôn trong hàm rồng để mộ kết. Truyện Chử Đồng Tử , trái lại, chính ông chôn sống ông trong lau sậy đất cát mà kết mộ. Một ngôi mộ chết, và một ngôi mộ sống , cả hai đều kết. Một người chết có khố , và một người sống không khố . Có và không, chết và sống, tất cả đều bay lượn giữa thiên nhiên, hiện tại, tương lai và quá khứ. Đó chính là không gian và thời gian của đời sống, biểu tượng cụ thể bằng cái nón. Nón dùng để úp lên. Như thiên nhiên, như đời sống tràn trên mặt đất. Nón úp lên gì? Xin thưa: úp lên người. Bởi vì người là sinh vật đứng lên từ mặt đất, như cây cối, nhưng biết hành động và tư duy. Người thuộc về dương tính, trong khi đất thuộc về âm. Quặng mỏ kim lọai (kim), cây gỗ (mộc) đều thuộc về dương (cho lửa và ánh sáng). Lửa và ánh sáng còn tượng trưng cho trí tuệ. Ta có thể kết luận rất uy tín rằng: con người ta đã chôn theo chất kim lọai (vàng bạc), đồ tẩm liệm (vải, khố, …), đóng hòm (gỗ), hoặc hỏa thiêu (lửa) để người chết sớm hòa với đất (âm) theo vòng tròn thiên nhiên và nhân duyên.
            Có lẽ biểu tượng đúng nhất về người là cây gậy (mộc). Gậy được cầm để hành động. Gậy biểu tượng cho chủ quyền, và quyền chủ động. Trong thần thọai, gậy tượng trưng cho pháp luật thiêng liêng và thần bí, phát hiện tâm linh siêu việt. Đó cũng là lý do tại sao Đức Phật ngồi dưới gốc bồ đề mà đắc đạo. Đức Chúa Jesus đóng đanh trên thập tự giá mà về trời, còn vọng lại câu: “ ai muốn theo ta hãy từ bỏ mình, vác thập tự giá mà đi”.
            Cây bồ đề, cây thập tự đều thuộc mộc, thuộc dương, tạo lửa và ánh sáng (hào quang). Đó chính là cây gậy tử sinh, gậy trí tuệ mà Chử Đồng Tử nhận được từ vị đạo sĩ núi Quỳnh Viên. Gậy này cũng làm ta nhớ đến chuyện “gậy thần và sách ước” trong kho tàng cổ tích Việt Nam [3].
            Tôi chắc rằng, sau bao nhiêu ngày tháng khổ hạnh, đến khi ngồi im lặng dưới cây bồ đề, Đức Phật đã không còn mảnh vải nào che thân. Cũng như chúa Jesus trên gỗ thập tự, đã thực sự bị cướp nát đến mảnh vải cuối cùng. Sự kiện này sẽ hữu lý khi ta thấy Chử Đồng Tử được gậy và nón là do hành động nhường khố kính cha. Khố là mảnh vải che thân, nhưng cũng là mảnh tương quan đối đãi. Còn khố là còn chướng ngại, còn bị chi phối bởi nghiệp lực của sắc giới và dục giới. Chử Đồng Tử không khố , tự lấp mình đi, đã giải được tất cả mọi nghiệp lực của sắc giới và dục giới. Ông đến với Tiên Dung , cũng trần truồng như hiện, do làn nước nhân duyên vạch rõ. Nước ấy cũng là nước tắm của người vợ xấu xí, là nước ngọc tiên. Nước của thiên nhiên xanh lá.
            Cho nên sự lạ kỳ giữa nón và gậy chính là nước . Đức Phật nhận bát sữa. Đức Chúa nhận nước dấm. Và Chử Đồng Tử nhận nước tắm của một giòng sông. Nước , hành thủy, trong truyền thống ngũ hành Đông phương. Ở Việt Nam , nước đứng đầu ngũ hành và được cai quản bởi Mẫu Thỏai. Chữ Thỏai do chữ Thủy đọc trại đi, và nàng chính là công chúa, con gái Lạc Long Quân. [4]

NGŨ HÀNH NHÂN DUYÊN

            Quan niệm vũ trụ nhân sinh của giòng Đạo Nội theo hệ thống Âm Dương Ngũ Hành, lấy sự sinh khắc và giao hưởng đối cực thể hiện hiện tượng đời sống và tâm linh siêu việt. Vì ngũ hành là tâm sinh lực của vạn vật, do sinh khắc mà cấu tạo nên, được biểu tượng bằng năm hổ (ngũ hổ) và năm sắc (ngũ sắc), án ra năm phương Bắc Đông Nam Tây và Trung Ương. Hành Thủy đứng đầu với ý nghĩa nước là nguồn tuôn tràn ra đời sống :
                       
        Công cha như núi Thái Sơn
                    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

            Cái hành thủy uyển chuyển vô cùng ấy cũng là nước mắt của Mẫu Thỏai, con gái Lạc Long Quân, thương xót chính mình và vạn vật. Mẫu Thỏai chính là “lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình”, là nguồn cội nuôi dưỡng, tác hợp, sinh khắc theo chu kỳ đồ biểu:

SINH ( => ) Thủy  => Mộc => Hỏa => Thổ => Kim

KHẮC ( ↔ )  Thủy ↔ Hỏa ↔ Mộc ↔ Kim ↔ Thổ

            Ngòai ra còn có hiện tượng tương thừa, tương vũ.
            Sự sinh khắc biến hóa theo biện chứng “ trung Âm hữu Dương, trung Dương hữu Âm”, tức Âm Dương Hòa. Chúng tôi không đi sâu vào chi tiết trong bài này, sỡ dĩ phải giới thiệu để có thể trình bày cuộc tình Chử Đồng Tử, Tiên Dung và Tây Cung, cùng khái lược về Đạo Nội. Mặc dù với thuyết tự nhiên, nhưng căn bản giáo lý cũng như quan niệm vũ trụ nhân sinh phong phú, chúng tôi sẽ trình bày trong lọat bài đặc biệt khác. Sau đây là biểu đồ tổng quát:




Đó là biểu đồ nhịp nhàng theo sự tuần hòan thiên nhiên, với không gian và thời gian, cùng sự sống của muôn lòai. Biểu tượng trời tròn, đất vuông, không có tính khoa học, mà thiên về tâm linh . Đất vuông ở trong, trời tròn bao ngòai, rất hài hòa trong tiết điệu ẩn và hiện. Trong vuông, ngòai tròn, cũng là thuật xử lý và dưỡng sinh của Đông phương. Biểu tượng này được gói gém trong truyện tích lịch sử “Bánh Dầy Bánh Chưng” thời Hùng Vương. Sở dĩ Liêu Lang được truyền ngôi báu vì ông đã hệ thống hóa, giản lược hóa, và hiện thực hóa được tư tưởng truyền thống và nếp sống thiên nhiên nông nghiệp Việt Nam. Riêng giòng Đạo Nội, lấy biểu tượng con hổ để chỉ uy lực và sinh lực, do sự sinh khắc phân hóa tràn ngập không gian và thời gian. Họ gọi Hổ là Tướng quân, và giòng Đạo Nội cũng kết thúc văn chầu bằng bài Ngũ Hổ Tướng Quân Luyện Văn. Biểu đồ trên xin được giải thích về Ngũ Hỗ ( Ngũ Hành) theo văn chầu:

            …..
            Trong hổ phúc thâm tàng binh pháp
            Lúc dương uy chấn tác qua nha
            Tai nghe nghìn dặm xa xa
            Ai mà thỉnh đến đều là cấp lai
            Thóat chân hình, trần ai biến tướng
            Hiện làm thần giao trượng thiên uy
            …

            Năm tướng phụng mệnh trấn nhận năm phương:

                        Tướng Thanh Hổ đóng ra Đông hướng
                        Ngọn cờ xanh vẽ tượng cơ tinh
                        Giáo trường vó sắt đầy doanh
                        Bắt lòai quỷ mộc đêm thanh hiện hình
                        Tướng Bạch Hổ binh hành cờ trắng
                        Cõi Tây giao trọng trấn quân doanh
                        Những lòai cốt khí hôi tanh
                        Lệnh truyền bộ ngũ tan tành như gio
                        Tướng Xích Hổ phất ra cờ đỏ
                        Mặt viêm phương chấn nộ hỏa công
                        Thạch tinh bắt được thiêu hồng
                        Đậu là chẳng khiếp uy phong khác thường
                        Tướng Bắc Hổ đóng sang Bắc trại
                        Trừ những lòai hành hại sinh linh
                        Gươm trường súng lớn tề chinh
                        Huyện kỳ kéo đến yêu tinh thất thần
                        Tướng Hòang Hổ trung tâm điều độ
                        Chiếc cờ vàng thẳng trỏ nghiêm minh
                        Khi mà tịch ấn đem binh
                        Uy như lẫm liệt chấn kinh xa gần [5]

            Biện chứng “âm dương ngũ hành” có khả năng giải thích những hiện tượng thiên nhiên , siêu nhiên thần bí, và đời sống của muôn lòai. Người ta hệ thống hóa mọi hiện tượng vào trong hệ thống âm dương ngũ hành. Đó là ta có thể áp dụng hệ thống âm dương ngũ hành vào nhiều bộ môn nghiên cứu như chính trị, quân sự, kinh tế, văn học, giáo dục, thiên văn, địa lý, y học, võ học, đạo học, lý số học … Văn hóa Việt Nam chịu nhận ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nhưng biết phối hợp với văn minh Hy Mã Lạp Sơn (Ấn Độ) dể sáng tạo nền tư tưởng văn minh Lạc Việt (Hòang Liên Sơn). Nếu Ấn Độ và Trung Hoa từ trên các đỉnh núi cao phía Tây và phía Bắc, thì Việt Nam chính là đồng bằng nhỏ bé thu hẹp ở  trung cung. Sự thành tựu này được biểu tượng bằng câu chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Chử Đồng Tử vẫn được gọi là cậu bé của đầm lầy, tức vùng đất thấp. Và những chuyện thần linh từ núi Tản, núi Sóc, đã chuyển xuống đồng bằng trung cung, nơi đó có đầm một đêm (Nhất Dạ Trạch).
            Không phải ngẫu nhiên mà Tiên Dung về đầm lầy gặp Chử Đồng Tử . Nhưng rất tình cờ, Chử Đồng Tử trở thành người con rể đầu tiên chống lại nhà vợ. Cuôc nhân duyên theo ngũ hành đến lúc chuyển động. Sự chuyển động này đã thay đổi từ thượng tầng đến hạ tầng cơ cấu xã hội thời Hùng Vương.
(còn nữa)



[1] Chúng tôi đề nghị quý cha mẹ trẻ, dùng tã nylon cho bé khi ra khỏi nhà, nhất là đi xa. Còn thường ngày, trong nhà, nếu được , dùng tã vải. Vừa tiết kiệm được tiền tã, vừa làm đẹp thêm tình con, tình đất.
[2] Lê Quý Đôn , dẫn trong Vân Đài Lọai Ngữ, bản dịch Phạm Vũ và Lê Hiền, Saigon 1972, tr. 47
[3] Nhân đây tôi vẫn tiếc cho tác giả Ngô Thừa Ân trong “Tây Du Ký” đã không biết đến cây gậy này, nên đã để Tôn Ngộ Không dùng “thiết bảng” (kim lọai) làm “gậy Như ý” và làm vũ khí. Tác giả Nghiêm Xuân Hồng trong “Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc” đã biến gậy thành lá, hóa thân của Cuồng Huệ, khiến tư tưởng của ông khế hợp truyền thống Đông phương.
[4] Sự tích Mẫu Thỏai được kể khá rõ trong sách của Hội Chân Biên, và các bài chầu văn. Sự kiện này khiến ta phải đặt câu hỏi: cái bọc trăm trứng của bà Âu Cơ đã nở ra cả trai lẫn gái, hay Lạc Long Quân có con gái với bà vợ khác, trước hoặc sau bà Âu Cơ?
[5] Những chữ gạch dưới (hoặc in nghiêng hoặc đậm nét) là chúng tôi tự nhấn mạnh

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

CHỬ ĐỒNG TỬ : VÔ LƯỢNG THỌ - phần I


NGÀY CỦA TRÁI ĐẤT (EARTH DAY)

Tuy nhiều dân tộc có chung tục thờ Thần Đất như ở Việt Nam, nhưng sự thờ phụng không mang ý nghĩa làm đẹp trái đất . Ngày 22 tháng 4 năm 1990, mấy trăm triệu người trên thế giới họp nhau ăn mừng kỷ niệm và … cãi nhau về chuyện Trái Đất . Họ tố cáo rằng con người đã khai thác trái đất quá tàn nhẫn. Đã phóng uế vào trái đất quá bừa bãi, đến mức cần phải báo động về môi sinh. Họ đã không đề cập đến việc người ta đã từng chôn vào trái đất những tư tưởng, âm mưu rất hắc ám!
Tựu trung, ngày của Trái Đất, kêu gọi mọi người trên tòan thế giới hãy ý thức trách nhiệm về việc giữ gìn và phát triển trái đất như một “kho trời chung”. Có bốn vấn đề chính:
1. Nếu không làm tăng, thì đừng để giảm khí ozone trong khí quyển . Nó sẽ rất nguy hiểm cho sức khỏe con người .
2. Mực nước biển cần được duy trì sạch sẽ để giữ cho trái đất sự điều hòa nhiệt độ.
3. Rừng cây xanh lá cần được bảo vệ và phát triển tối đa để trái đất thêm xanh, và sinh vật thêm hồng.
4. Con người nên tiết giảm sinh đẻ vì “của kho có hạn”.

Tuy chia làm bốn nhưng thành số vẫn là một : cuộc sống. Con người vốn sống trong giới hạn: sinh, bệnh, già, và chết. Để kéo dài giới hạn này, người ta tiến dần vào khoa học. Để thóat khỏi giới hạn đó, người ta đi tìm Đạo học .
Ai cũng cảm nhận rằng, ngày của Trái Đất, đằng sau việc làm đẹp trái đất, là sự dọn mình để gặp gỡ … người của các hành tinh khác. Đó là tiến trình khoa học, tuy chậm chạp nhưng rất … cởi mở để người ta biến thành … công dân thế giới !
Cách đây ít nhất trên 2000 năm, một người Việt Nam đã từng “làm đẹp trái đất”, đi từ khoa học, vào tới đạo học, thực hiện được cả đến việc kết hợp với người hành tinh ngòai trái đất. Đó là Chử Đồng Tử. Hành trình của ông rất ngắn, thực hiện ngay trong một đời . Ông cũng là tổ của ngành Đạo Nội, tức đạo Đồng Bóng ở Việt Nam. Là một trong Tứ Bất Tử, nhưng Chử Đồng Tử, gọi theo thuật ngữ hiện nay, ông còn là thánh tổ của triết thuyết hiện sinh, là thánh tổ của tất cả mọi phong trào giải phóng giai cấp và giải phóng tính dục. Có lẽ ông là tổ của “Ngày của Trái Đất”, và là một người vượt qua vô sản, vượt qua tư bản, không hề đấu tranh mà vẫn đạt thành đạo quả.
Có lẽ Chữ Đồng Tử là tổng hợp của tôn giáo và trí tuệ Đông phương, từ hơn 2000 năm qua, vẫn sống thong dong ngòai trái đất .

CÂU CHUYỆN CÁI KHỐ

Khi còn nhỏ, mảnh vải quấn thân gọi là cái tã. Lớn lên rồi, mảnh vải ấy đổi kiểu và đổi tên là cái khố. Ngày xưa, vào thời Hùng Vương, và có kéo dài qua thời Hai Bà Trưng, khố là phục sức của đàn ông. Khố cũng có nhiều kiểu, như kiểu khố đuôi lươn rất được ưa chuộng. Mãi về sau này, khố mới bị xem như trang phục của nhà nghèo: “thời kỳ đóng khố” . Hoặc những người đóng khố bằng vỏ cây, lá cây như cái khố chuối của Trần Minh, thuộc lọai nhà nghèo. Khố là từ ngữ rất Việt Nam, mặc dầu nó cũng có một ít nghĩa Hán. Ta có thành ngữ “ bạn nối khố “, ý chỉ bạn rât thân, như ruột thịt. Cũng có nghĩa là bạn rất lâu, từ thuở hàn vi, thuở đóng khố. Nhưng từ ngữ “ cha con nối khố “ mới nói được hết ý nghĩa thâm trọng của liên hệ tình cảm sống chết của con người .
Đó là câu chuyện cổ tích: ngày xưa có bốn bố con, nghèo đến độ cả nhà chỉ có một chiếc chiếu và một cái khố. Họ phải thay nhau đóng khố để ra ngòai kiếm ăn. Đến khi ông bố sắp chết mới dặn các con giữ chiếu và khố lại mà dùng, cứ để bố chết truồng cũng được. Nhưng ba anh em thương bố quá, không nỡ, vẫn mặc khố cho bố, lấy mảnh chiếu bó bố lại, đợi ban đêm mới khiêng bố đi chôn. Phần vì thiếu ăn, phần vì trời đêm giá lạnh, ba anh em vất vả mệt quá. Họ nghỉ chân bên gò đất ngòai đồng, thầm khấn: “ Bố ơi, bố linh thiêng, phù hộ cho chúng con, bố nhẹ đi để chúng con dễ khiêng bố . “ Khấn xong họ tiếp tục khênh bố họ lên. Lần này họ khiêng dễ thật : rất nhẹ. Ba anh em mừng lắm, tin rằng bố rât linh thiêng .
Chôn cất bố xong, ba anh em lần theo lối cũ về nhà . Qua gò đất, họ vấp phải xác người chết bên đường . Xác chết cũng đóng khố . Trời tối quá, ba anh em không nhận ra ai . Họ xúyt xoa: “ Tội nhgiệp . Bố ta còn được bó chiếu chôn cất. Người này chết phơi thây ở đây . Thôi ta làm phúc chôn ông ta vậy” . Nhân hốc đất gần đấy, ba anh em hì hục khiêng xác chết vùi vào .
Đêm ấy, người anh cả ngủ mơ thấy một con rồng đến bảo: “Này anh kia, anh có dời xác bố anh ra khỏi hàm tôi không. Tôi trả công anh mâm bạc”. Sáng dậy quả có một mâm đầy bạc sáng lóe . Người anh kể chuyện giấc mơ . Rồi đến đêm anh ta đi dời mả bố mình nhích ra một chút . Ba anh em nhờ mâm bạc sống rất thỏai mái .
Lại một đêm khác, người con thứ hai mơ thấy rồng đến năn nỉ : “ Ông ơi, ông không chịu dời mả bố các ông, làm hàm tôi bắt đầu sưng đau lắm . Tôi đền ơn ông mâm vàng, xin ông nhích bố ông ra một chút”. Sáng ra quả có một mâm đầy vàng sáng rực . Người con đi ngay đến mả bố, kéo bó chiếu nhích đi theo lời con rồng .Từ đó ba anh em tương đối sung túc . Tậu nhà, lấy vợ, chăm chỉ làm ăn .
Nguyên hồi khiêng bố đi chôn, vì chiếu cũ rách, xác bố lọt tuột ra ngòai . Ba anh em không biết, tưởng bố tự nhẹ đi . Vô tình lần về, chôn làm phúc người dưng, lại chôn chính bố mình vào hàm rồng . Mỗi lần dời mả chiếu, xác bố thật vẫn y nguyên trong hàm rồng . Vì thế, người con út ngày kia thấy rồng lại đến khóc lóc : “ Ông ơi, miệng tôi sưng to đau quá sức rồi . Xin ông nhích mả bố ông ra một chút . Tôi đền ơn ông lọ ngọc tiên . “ Sáng dậy quả có một chiếc lọ nhỏ bằng ngọc rất đẹp. Người em mở nút ngửi được mùi thơm ngạt ngào . Anh ta cất lên giánh bếp , định bụng để đấy xem sao . Rồi anh cũng ra mả bố , nhích chiếc chiếu đi cho rồng . Dĩ nhiên xác bố thật vẫn nằm yên . Mả kết .
Nói về chị vợ người em út, đen đủi, xấu xí, chỉ được cái nết na, trung hậu, chịu khó . Một hôm tình cờ thấy lọ ngọc tiên trên giánh bếp . Nhân lúc muốn tắm, chị pha nước thơm trong lọ vào chum nước . Bất ngờ dội nước đến đâu, da chị trắng ra đến đấy . Chị thích quá, dội hết chum nước. Người chị bỗng trắng trong như ngọc, tóc xanh như mây . Chị trở nên đẹp lạ lùng . Nước tắm chị dội lan ra luống hành hương . Hành lớn vùn vụt . Củ hành to như bình vôi, lá dài như đòn gánh .
Chồng chị, người em út kia đi cày về, thấy vợ đẹp như tiên, say đắm quá, cứ ngẩn ngơ ngắm vợ không thiết làm lụng gì nữa . Mãi rồi vợ bảo : “ anh cứ ở nhà, không làm lấy gì mà ăn . Thôi để em vẽ em lên chiếc mo cau, anh đi cày, cắm mo cau trên bờ ruộng, cũng như có em vậy “. Chồng nghe theo, đem mo cau có hình vợ giống như đúc, cắm ở bờ ruộng, vừa làm vừa ngắm vợ không biết chán . Bất ngờ có con chim đại bàng sà xuống quắp chiếc mo cau bay đi . Nó bay đến cung điện nhà vua thì thả xuống . Vua xem hình vẽ trên mo cau đâm ra tương tư người con gái . Vua rao truyền tìm người đẹp mo cau để kết duyên . Quân lính bắt được chị vợ kia . Vua mừng lắm . Nhưng người vợ nhớ chồng, nhất định không chịu . Suốt ngày chị u sầu, không cười, chẳng nói . Được cái ngòai sắc đẹp lạ thường, chị còn tiết ra hương thơm lạ thường . Vua càng yêu thích, tìm mọi cách để được cầu thân .
Nói về chồng chị, người em út kia nhớ vợ quá . Anh bèn nhổ hành, quang gánh quẩy lên kinh đô , rao quanh cung điện :

Hành xanh hành xanh
Dọc bằng đòn gánh
Củ bằng bình vôi
Ai mua hành tôi
Thì thương tôi với

Người vợ nghe tiếng rao, hớn hở nở miệng cười . Ôi chao là đẹp . Vua thấy vậy, nẩy ra ý muốn làm người bán hành . Vua bèn gọi anh chồng đến, đổi lấy khố, gánh lấy hành . Người chồng lập tức mặc áo mũ của vua . Bấy giờ luật lệ nghiêm khắc, không ai được phép ngẩng mặt nhìn vua. Thành ra khi vua rao hành, người chồng đã mặc áo mũ vua, ra lệnh bắt vua bán hành hạ ngục . Cuối cùng anh làm vua, chị vợ làm hòang hậu .(1)

SỰ TÍCH CHỬ ĐỒNG TỬ

Câu chuyện cổ tích trên, một phần ảnh hưởng bởi truyện Chử Đồng Tử , hoặc ngược lại . Chử Đồng Tử chỉ có hai bố con . Bố tên là Chử Vi Vân , người làng Chử Xá . Bấy giờ vào đời vua Hùng Vương thứ ba. Hai bố con họ Chử rất hiền lành, gặp nạn nhà cháy, mất hết tài sản, chỉ còn một cái khố vải. Họ phải thay nhau đóng khố khi ra ngòai. Cũng như chuyện trước, ông bố bị bệnh già, bảo Chử Đồng Tử rằng: “ Ta chết cứ chôn lỗ cũng được, để khố lại mà mặc, kẻo xấu hổ.” Nhưng bố chết, con không muốn để bố trần truồng, vẫn mặc khố cho bố mà đem chôn.
Còn lại một mình, Chử Đồng Tử phải ẩn thân dưới nước, bắt tôm cua cá ốc độ nhật. Một hôm đang dầm mình ven sông câu cá, Chử Đồng Tử nghe tiếng chuông trống đàn sáo vang vang. Rồi bỗng chốc nghì tượng cờ xí tấp nập. Chử Đồng Tử hỏang sợ tìm chỗ trốn. Nhân thấy bãi phù sa, lau sậy lơ thơ, bèn phóng vào đào cát lấp kín thân thể, không dám nhúc nhích. Giây lát, thuyền lớn ghé lại, đó là chiếc thuyền của công chúa Tiên Dung Mỵ Nương, con vua Hùng Vương. Công chúa dung mạo tuyệt vời, tuổi đã mười tám, nguyện không lấy chồng, chỉ thích ngao du thiên hạ. Vua cũng chiều. Mỗi năm khỏang tháng hai, ba, nàng sửa sọan thuyền bè, lênh đênh sông biển, vui chơi quên cả ngày về. Thuyền đỗ bến Chử Xá, công chúa bước xuống dạo chơi. Nàng lại truyền lấy màn vây kín bãi phù sa lau sậy làm bãi tắm. Tình cờ đúng chỗ Chử Đồng Tử ẩn trốn. Tiên Dung cởi bỏ xiêm y, múc nước dội tắm. Nước trôi cát chảy để lộ thân hình Chử Đồng Tử. Hồi lâu công chúa mới biết là thân hình chàng trai. Công chúa từ tốn bảo:
- Ta đã nguyện không lấy chồng, nay lại gặp ngươi trong mộ cát, có lẽ do trời xếp đặt chăng? Thôi ngươi hãy đứng lên tắm rửa đi.
Rồi sai lấy áo quần cho Đồng Tử mặc, cùng xuống thuyền ăn uống. Chử Đồng Tử kể thân thế mình cho Tiên Dung nghe. Tiên Dung thương xót bảo làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ. Công chúa nói:
- Cuộc tao ngộ lạ lùng này vốn do trời định sẵn, đừng cưỡng làm gì.
Đồng Tử bèn chịu. Kẻ tháp tùng đem việc này tâu vua. Hùng vương giận bảo:
- Tiên Dung không trọng danh tiết, hạ mình lấy kẻ không khố. Thôi, còn mặt mũi nào thấy ta nữa. Từ nay mặc kệ cấm chỉ không cho về nhà.
Tiên Dung nghe tin, sợ hãi, đành cùng Chử Đồng Tử ở đấy, lập thành phố xá, chợ búa, buôn bán với dân. Lâu dần thành một ngôi chợ rất lớn ( nay là chợ Hà Lõa, nghĩa là sông trần truồng). Các nhà buôn nước ngòai qua lại tấp nập, kính trọng Đồng Tử, Tiên Dung rất mực. Có vị đến nói với Tiên Dung rằng:
- Nếu quý vị chịu xuất vốn đi biển, giao thương với nước ngòai mà buôn vật quý, chỉ một năm ắt thành nghiệp lớn.
Tiên Dung bàn cùng Chử Đồng Tử :
- Vợ chồng ta do trời xếp đặt, thành sự đều từ tự nhiên. Nay cũng cứ thuận theo trời, cùng người nước ngòai ra ngọai quốc buôn bán, chắc sẽ thành công.
Rồi Đồng Tử đem vốn theo vị đại thương ra biển. Ngòai biển có ngọn núi Quỳnh Viên, trên núi có chiếc am. Thương nhân ghé thuyền múc nước. Đồng Tử nhân lên chơi am, gặp một đạo sĩ tên là Phật Quang. Đạo sĩ truyền phép cho Đồng Tử, bảo ở lại nghe pháp. Đồng Tử bèn giao vốn cho vị đại thương, dặn cứ đi mua hàng, khi trở về thì đón Đồng Tử. Ở lại Quỳnh Viên Sơn học đạo, Đồng Tử cho là phép lạ tự nhiên. Khi người đại thương mua được hàng đến đón, Đồng Tử mới từ giã am chủ. Vị đạo sĩ tặng Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón mà rằng:
- Linh thiêng ở cả đây đấy.
Về nhà, Chử Đồng Tử đem đạo pháp nói hết với Tiên Dung . Từ đó vợ chồng bỏ chợ búa, cùng đi tìm thầy học đạo. Một hôm đến phủ Khóai châu, trời tối mà chưa thấy nhà trọ. Họ đành ở lại giữa đường, cắm gậy, úp nón lên để che. Đêm ấy bỗng hiện lên lâu đài thành quách, lại đủ cả tướng sĩ, thị vệ, kho tàng, miếu xã … y như thủ đô của một nước lớn. Sáng ngày, dân thấy, lấy làm kinh dị, tranh nhau dâng hoa hương ngọc thực theo phục mỗi ngày mỗi đông.
Được tin, vua Hùng Vương cho là con gái muốn làm lọan, bèn phát binh trừng phạt. Tiên Dung nói:
- Chuyện không phải chúng ta cố ý làm ra, đều do trời định. Chết sống cũng thế. Ta đâu dám chống lại vua cha, xin chịu sự trừng phạt.
Dân nghe cả sợ, bỏ đi hết. Quan quân của triều đình rầm rộ kéo đến đóng cách một con sông lớn, vì trời sắp tối, chưa kịp tiền binh. Đến chừng nửa đêm, bỗng nhiên gió lớn. Rồi lâu đài thành quách của Chử Đồng Tử và Tiên Dung vụt bay lên trời. Đất chỗ ấy sụp xuống thành một cái đầm cực lớn. Dân gian gọi là Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm). Châu ấy được gọi là Man trù châu, hoặc Tự nhiên châu. Bốn mùa cúng tế rất linh dị .(2) Sách của Hội Chân Biên đề thơ rằng:

Tự cam vô kệ hiếu ư thân
Tùy ngộ an bần bất hữu thân
Trúc sách một đao thời tác lọan
Sa châu thủy quốc nhật tương lân.

Tiên châu giải cấu kỳ cơ hội
Kinh đảo viên thành thắng quả nhân
Đạo đại thiên nam tiên tác tổ
Duyên lai nhất niệm khả thông thần
Dịch:

Mình truồng cam phận khố nhường cha
No ấm, tùy may quản chi mà
Bến nước một cần buông có lúc
Giang sơn riêng một bãi phù sa

Thuyền tiên đôi lứa duyên kỳ ngộ
Phật đảo viên thành sạch nghiệp ta
Đạo tổ trời Nam người đệ nhất
Thần thông nhất niệm đạo không xa
( Hội Chân Biên – theo Nguyễn Đăng Thục)

Ở xã Đa Hòa, tổng Mễ Sở, phủ Khóai Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là Hải Hưng) có đền thờ Chử Đồng Tử , trở thành trung tâm tín ngưỡng bình dân Việt Nam : Đạo Nội, hay Nội Đạo Tràng, hay Nội Điển, hay Đồng Bóng. Đạo này lấy hai chữ “Tự Nhiên” làm căn bản giáo lý, lấy hai chữ “thần tiên” làm chủ đạo, hòa hợp với sự thờ phượng các vị anh hùng dân tộc, trải dài theo lịch sử, để mở đạo trong lòng người . Chử Đồng Tử cùng công chúa Tiên Dung , và Tây Cung tiên nữ, trở thành các vị tổ của Đạo. Chúng tôi sẽ nói sau. Bây giờ xin trở lại “Ngày của Trái Đất” xem Chử Đồng Tử đã làm gì qua câu chuyện nhường khố.

(còn nữa)

bài này dã đăng trên tạp chí Thời Tập 1991, bị thất lạc 2 phần cuối, nay sưu tầm đăng lại đây.

tường vũ anh thy 1990

ghi chú:
(1) chuyện không thấy chép ở sách nào, chúng tôi chỉ nghe kể từ hồi còn nhỏ, coi như chuyện dân gian, sẵn đây ghi lại.
(2) chép theo Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp,bản dịch của Lê Hữu Mục, Trăm Việt xuất bản tại Hoa Kỳ 1982.

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

Cao Bá Quát: Tiếng Hát Tâm Không




 ÔI CÁI CẢM GIÁC MỜ MỊT GIỮA ĐẤT TRỜI  chỉ có một mình, không phải đợi đến lúc vợ chết, mà là ngay lúc ra đi, ông đã mang mang. Tâm sự của ông là tâm sự của một tay tráng sĩ, bàng bạc phù vân, lồng lộng trường giang nổi sóng – là tâm sự của một thi sĩ – đi là đi mãi – đi cho đến kỳ cùng cuộc lữ. Vợ chết là lúc thử nghiệm và lịch nghiệm cái kỳ cùng của cuộc lữ kia nơi chân trời góc bể. Bởi thế ngay những ngày tháng lê thê trong gông cùm đày ải, ông đã cảm nghiệm được thế nào là định mạng trở cơn – thế nào là tồn sinh sử lịch – và thế nào là công lực mai hoa.
Hình như lúc nào Cao Bá Quát cũng có cảm giác mình là một loài cá Côn, chim Bằng trong sách Trang Tử. Ông đã bay, và sức bay cao vút.
bóng thiều quang thấp thoáng dưới nam san
ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ
(chén rượu tiêu sầu)
Đọc Nam Hoa Kinh, ta thấy mở đầu thiên Tiêu Diêu Du là một cánh chim quạt gió:
“tại biển bắc có con cá Côn, lớn không biết mấy ngàn dặm. Cá này hóa ra chim Bằng; lưng của chim Bằng lớn cũng không biết mấy ngàn dặm, vỗ cánh mà bay, cánh nó xòe ra như mây, che rợp một phương trời. Biển động, Bằng bèn bay sang biển Nam: biển Nam là Ao Trời.
…..
Cái mà ta thấy trong không kia có phải là bầy “ngựa rừng” chăng, hay là bụi trần? Hay là hơi thở của muôn vật thổi lên? Còn màu trời xanh xanh kia có phải là màu thật của nó không, hay chỉ là màu của vô cùng thăm thẳm? Thì cái thấy của chim Bằng bay trên mây xanh dòm xuống cảnh dưới đây cũng chỉ như thế mà thôi.” *
Đọc đoạn ấy rồi cũng mới thấy cái thấy của Cao Bá Quát khi ông nhìn lại cuộc đời người. Sự nhìn lại này là một cái nhìn song trùng trong đôi mắt nghệ sĩ. Ông tự thấy mình như một luồng hơi, một bầu khí nóng, bốc lên từ đồng ruộng phì nhiêu trên châu thổ sông Hồng hà. Cao Bá Quát vẫn có một quan niệm tuyệt đối về bản thể tự do của con người, nhất là Con Người Đồng Ruộng. Họ sinh ra và lớn lên trong dưỡng chất trần gian, tự do giữa trời đất. Họ chính là những luồng hơi từ sông hồ đồng ruộng bốc lên vào mùa xuân, đi lại khắp nơi khắp chốn tùy theo gió trời. Vì sinh ra như thế, tấm thân như sắt luyện trăm lần cứng rắn. Vì sinh ra như thế, tâm hồn ngùn nghụt hùng khí, nghênh ngang cùng trời đất. Phải chăng đó là cái ban sơ thơ mộng về con người tuyệt đối trong đôi mắt họ Cao? Và ông thất vọng khi tiếp xúc với thế giới hữu hạn của thành phố mà ông gọi là lưới đời. Khi mắc vào lưới đời thì khí phách dần dần mòn đi. Đó là một nỗi đau thương bậc nhất của kẻ sĩ. Đem một tâm hồn khoáng đạt, một tấm lòng thênh thang, để đối đãi với mối đau thương ở lưới đời thật chẳng khác “chiếc lá quay cuồng trên sóng lớn”, như thơ của Tô Đông Pha.
Chiếc lá là tấm thân ông đang trơ trọi, xa quê cha, vợ con, bè bạn. Sóng lớn là cái án sửa văn trong trường thi cho thí sinh. Lưới đời là sự ràng buộc khắt khe và độc ác của chính trị, luật pháp, và sự thấp hèn của thói đời. Bài thơ ông làm đề ngày 21 tháng giêng, đó là ngày ông bị giải giam sang ngục Thừa Thiên. Từ đây có lẽ ông sẽ không còn bị tra tấn đánh đập nữa. Ông có cảm giác chắc chắn rằng mình vẫn còn sống. Thì ra ta vẫn còn sống ! Ông đã ăn một cái tết trong tù với bao nhiêu hình cụ và nước mắt.
Cái sực tỉnh biết mình còn sống có lẽ làm ông gần với Trang Châu hơn. Những thiên Tiêu Diêu Du, Tề Vật Luận, Dưỡng Sinh Chủ, Đức Sung Phù…trong Nam Hoa Kinh bỗng ào ạt tuôn chảy trong bát mạch. Phải chăng ông đã vận công trong phép “lấy trí mà hóa tình” của Trang Tử? Hãy bình tĩnh, hết sức bình tĩnh! Ông nói:”phải lấy chí bên trong mà giữ khí bên ngoài”, không để cho tạp niệm, những sự nhỏ nhen chung quanh kích thích, ảnh hưởng. Đó là phép quán tưởng hành thiền, hay bí quyết võ công thượng thừa? Ở đây ông đã phối hợp phương pháp vận công của phái Lão Trang (Võ Đang) và phép quán tưởng của Thiền Đông Độ (Thiếu Lâm).Tại sao lại “nội chí nhiếp ngoại khí”? Đó không phải là một điều bí hiểm. Nó chỉ giản dị là một hơi thở tương thông, giữa chí và khí tương hiệp, trong và ngoài tương giải. Nhưng nó có sự huyền nhiệm của một luồng chân khí thúc đẩy kỳ kinh bát mạch vận chuyển liên tục theo nhịp tuần hoàn của vạn vật tương sinh. Chính nhờ phương pháp này, một chủ về dưỡng sinh, một chủ về dưỡng quán, mà Cao Bá Quát đã mở được cánh cửa tâm thức.
Ông bỗng thấy lòng hào sảng như những ngày xa xưa của tuổi trẻ. Chàng Quát uống rượu say là lăn quay ngay dưới bụi gai. Không hề gì. Buồn ngủ là ngủ. Ngủ được ngủ ngay. Đâu có trằn trọc đắn đo lo lắng. Đâu có tính gì đến cảnh cùng đường, đến cạm bẫy của thói đời.
Cùng đường rồi thì thân phận khác nào như ngọn cỏ bồng đứt rễ. Hãy như ngọn cỏ bồng đứt rễ. Tâm vô quái ngại. Tâm vô sở trụ. Người đời coi ông là tội phạm, là thứ bỏ đi, ông cũng nhận là đáng bỏ đi. “Rằng ngựa trâu, vâng cũng ngựa trâu”. Câu này ông làm về sau, bài MAY RỦI, chắc ở Quốc Oai, khoảng từ năm 1851 đến 1853, lấy ý của Trang Tử: “Hô ngã vi mã, ứng chi viết mã; hô ngã vi ngưu, ứng chi viết ngưu.” Đây là một bài thơ Nôm rất quan trọng, mà khởi điểm từ thời gian tù đày này. Nó cho ta thấy sự thành tựu của Kiếm Pháp Mai Hoa, ông còn gọi là Gươm Trí: liếc Gươm Trí cắt giặc phiền từ đó”. Gươm Trí phá hủy triệt để mọi chấp tướng phiền não ở thế gian, suốt trong ba cõi Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Trí đây là Trí Huệ Bát Nhã. Gươm Trí có được là do ở Pháp Nhãn. Pháp Nhãn là con mắt thứ tư trong ngũ nhãn của Phật và Bồ Tát. Pháp Nhãn nhìn thấu suốt tất cả các pháp. Đó cũng là đôi mắt của kiếm sĩ, đã chứng Đạo, thấu suốt mọi thứ kiếm phổ, kiếm quyết, mọi chiêu thức phát ra hay không phát ra. Đó cũng là cặp mắt của chim Bằng từ trên cao nhìn xuống.
Đột nhiên cuộc đời tạp nhạp hiện lên với tất cả sự trơ tráo lố lăng và tàn lụi. Những kẻ lon ton nịnh hót, chạy chọt bon chen, múa may quay cuồng trong cõi thị phi thiện ác, kết cuộc sẽ đến đâu? Có nên cơm cháo gì khi tới hồi chung cuộc? Cái trói buộc giữa xác thân năm uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu khiếu trong thế giới hiện tượng kia sẽ là gì? Phải chăng chỉ là một cuộc chiến do sự tham chấp và vọng tưởng? Trang Tử gọi là cuộc chiến tự nơi cái lòng người nhơ bẩn. “Tâm vô thiên du, lục tạc tương nhương.” Cao Bá Quát cố ý đưa Trang vào đây, trong khi bài thơ đang dùng Kinh Bát Nhã Ba La Mật; dùng pháp nhãn để “quán chiếu ngũ uẩn giai không”. Ông nhắc lại chữ “bánh xe, hòn đạn” trong thiên Đại Tông Sư: “giá như hóa cánh tay trái tôi thành con gà, thì tôi nhân đó mà gáy canh; giá như hóa cánh tay mặt của tôi thành hòn đạn, thì tôi nhân đó mà kiếm chim quay. Giá như hóa cái xương cùng của tôi làm bánh xe, tôi nhân đó mà cưỡi, há còn đợi xe ngựa nào nữa”** Rồi ông lại để cho lửa thiêu đốt tất cả. Chữ “hỏa khanh” là một từ ngữ Phật Giáo, có nghĩa là hầm lửa thiêu đốt tứ tung, cũng gọi địa ngục lửa, tượng trưng cho cõi đời sanh lão bệnh tử, cho kiếp người tham lam ái dục. Cùng nghĩa với “hỏa trạch”, căn nhà bốc lửa.***. Khi lửa thiêu đốt thì vạn sự ra tro. Biết vậy nhưng ông bật tiếng ho, ngâm khúc Ly Tao của Khuất Nguyên. Ngày trước Khuất Nguyên bị vua Sở ruồng bỏ, vừa đi lang thang ở bờ sông Tương, vừa làm khúc Ly Tao, Hoài Sa, vừa hát ngêu ngao, vẫn hàm ý yêu nước thương đời. Cao Bá Quát bị giải giam sang ngục Thừa Thiên, tay mang gông, ông vẫn làm thơ, vừa đi vừa ngâm. Ông tự hỏi giữa ông với Khuất Nguyên, ai thật là người bị ruồng bỏ vì yêu nước, thương đời ?
Bài thơ năm chữ, dài 32 câu, trải mấy ngàn năm lịch sử tư tưởng chữ nghĩa để trở về với thực tại tù đày, thân phận con người trong thế giới nhân sinh. Từ thế giới đó, ông bước ra rồi lại bước vào. Cái khó hiểu của bài thơ, hay chìa khóa của bài thơ lại ở trong tay Duy Ma Cật (Vimalakirti) một cư sĩ Phật Giáo rất giàu có; và Huệ Năng, vị tổ thứ sáu Thiền Đông Độ. Duy Ma Cật là cư sĩ duy nhất có sách gọi là kinh: Kinh Duy Ma Cật. Và Huệ Năng là thiền sư duy nhất có sách gọi là kinh: Pháp Bửu Đàn Kinh. Cao Bá Quát lại mượn tay của Trang Tử với cuốn Nam Hoa Kinh để mở. Ý nguyện của ông là ở lại giữa trần gian, tranh đấu cho tự do của con người, đập phá tất cả mọi nhà giam, trại tập trung, trại cải tạo; thiêu hủy tất cả mọi hình cụ tra tấn giữa người với người; (câu đối hồi trẻ của ông: trời nắng chang chang người trói người) đốt cháy tất cả mọi tài liệu học tập chính trị, để chỉ còn lại thơ trong bầu trời bát ngát. Đó là TIẾNG HÁT TÂM KHÔNG được cất lên khắp nẻo đường đời.

CHÍNH NGUYỆT NHỊ THẬP NHẤT NHẬT DI TỐNG THỪA THIÊN NGỤC TỎA CẤM
Dư sinh nhất dã mã
Phiêu chuyển tùy thiên phong
Vãng lai vô định căn
Chỉ taị đại khối trung
Thủy vi bách luyện cương
Khảng tảng nhất sĩ hùng
Tự trước thế võng anh
Tao tiết tòng ma lung
Dĩ ngã khoáng bạc tâm
Mãnh dữ ưu thích thông
Nhất diệp vũ bành bái
Tư ngôn văn nhiêm công
Tuế mộ tạ giá sở
Tàn sinh tín vi cung
Nội chí nhiếp ngoại khí
Bất thu bỉ lự công
Hốt ức thiếu niên thời
Túy ngọa kinh cức tòng
Khốn miên đắc sở tức
Khởi tri thương lộ cùng
Khảm kha lý tư vận
Phận ủy cô phi bồng
Tội phế tín ngã sở
Hề trạch tây dữ đông
Phiên phiên khoa tỳ tử
Hoan hoa an hữu chung
Tự ngã pháp nhãn quan
Lục tạc di nhược không
Hỏa khanh trước huyễn tướng
Luân đạn dữ hóa đồng
Phóng bộ học hành ngâm
Thùy thị ly tao ông

NGÀY HĂM MỐT THÁNG GIÊNG GIẢI GIAM SANG NGỤC THỪA THIÊN

ta vốn là một bầu khí nóng
tự do bay theo sóng gió chơi
ở đi, đi ở khơi khơi
khắp trong trời đất nơi nơi ẩn mình
như sắt thép trăm lần trui luyện
thân anh hùng chí nguyện nghênh ngang
cũi đời từ độ đa mang
tâm hồn khí phách hoang mang héo mòn
đem tấm lòng thênh thang khoáng đạt
sẩy gặp đâu trôi dạt đau thương
bỗng như chiếc lá giữa dòng
câu thơ Tô Thức cái vòng yêu ma
năm vừa hết cùm tra tạm kết
tết vừa xong lê lết còn thân
còn thân phải biết phòng thân
lấy tâm giữ khí chớ phân vân nhiều
nhớ tuổi trẻ như diều phơi phới
rượu uống say nằm dưới bụi gai
ngủ thời ngủ được ngủ ngay
bõ đâu tính tới những ngày đắng cay
bây giờ lúc chân tay cùng quẫn
hãy đành như ngọn cỏ bồng bay
cuộc đời xóa bỏ thân này
đã “vô sở trú” thì tây đông gì
kìa những kẻ đuổi hình bắt bóng
gió đổi chiều biết có hay không
cứ như pháp nhãn mà trông
được thua ái ố cái không vẫn kề
hầm lửa đỏ bốn bề thiêu đốt
lợi với danh cùng nhốt chung mồ
vừa đi vừa hát mơ hồ
ai người yêu nước thương đời hỡi ai

chú thích: * Nam Hoa Kinh, bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Khai Trí 1962 – tr. 112-113. Chúng tôi có sửa đổi chữ “trong không” thay vì “trên không” để tránh trùng ở câu dưới. ** Nam Hoa Kinh, SĐD. *** Tự Điển Phật Học – Đoàn Trung Còn – Sài Gòn 1966

tường vũ anh thy 1982 
( trích trong Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi, Ức Trai xuất bản 1985 )





Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

kệ ngợi ca Phật Quán Thế Âm







Trở lại kinh Pháp Hoa, phẩm thứ 25, tức phẩm phổ môn/khắp mọi cửa/ đức Phật Thích Ca tuyên xứng Phật Quán Thế Âm với 4 đặc điểm:
1- Thất nạn
2- Nhị cầu
3- Tam thập nhị ứng
4- Thập tứ vô úy
Cuối cùng đức Thích Ca đọc bài kệ dài 98 câu để ngợi ca Phật Quán Thế Âm. Tôi đọc bài kệ này thấy 28 câu cuối cùng thật xúc động và súc tích nên chuyển sang tiếng Việt thêm một lần nữa. Nguyên văn của Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) dịch từ chữ Phạn sang chữ Nho:

  chân quán thanh tịnh quán
  quảng đại trí tuệ quán,
  bi quán cập từ quán,  
  thường nguyện thường chiêm ngưỡng.
  vô cấu thanh tịnh quang,
  tuệ nhật phá chư ám,
  năng phục tai phong hỏa,
  phổ minh chiếu thế gian.
  bi thể giới lôi chấn, 
  từ ý diệu đại vân, 
  chú cam lộ pháp vũ,
  diệt trừ phiền não diễm.
  tránh tụng kinh quan xử,
  phố úy quân trận trung, 
  niệm bỉ quan âm lực, 
  chúng oán tất thối tán.
  diệu âm quán thế âm, 
  phạm âm hải triều âm, 
  thắng bỉ thế gian âm, 
  thị cố tu thường niệm,
  niệm niệm vật sinh nghi.
  quan thế âm tịnh thánh, 
  vu khổ não tử ách,
  năng vi tác y hỗ.
  cụ nhất thiết công đức,
  từ nhãn thị chúng sinh, 
  phúc tụ hải vô lượng, 
  thị cố ứng đính lễ

kệ ngợi ca Phật Quán Thế Âm


nhìn trong suốt ban sơ
nhìn hiểu biết bao la
nhìn thương cảm khôn cùng
hằng tin hằng trông cậy
ánh sáng sáng tinh khôi
như  ngày xua đêm tối
như lửa đốt vận hạn
chiếu huy hoàng thế gian
tình thương ngưng sấm sét
chan chứa muôn màu mây
thương yêu là mưa pháp
rửa sạch khổ đau buồn
dù kẹt vòng lao lý
dù kẹt vòng chiến tranh
do sức niệm quán âm
mọi vòng đều đứt hết
tiếng thấu suốt diệu kỳ
tiếng trời gầm biển thét
san phẳng những thị phi
nên chăng thường cầu niệm
cầu niệm chẳng hề nghi
thánh trong sạch quán âm
mọi sinh già bệnh chết
đều được giúp qua bờ
trọn vẹn mọi sự sự
mắt thương nhìn muôn loài
phước lành dồn như biển
nên thành thật cúi chào


tường vũ anh thy

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

bài kệ cuối cùng cuả Lục Tổ Huệ Năng




Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Phó Chúc X, có chép bài kệ cuối cùng của Lục Tổ Huệ Năng, chỉ mấy canh giờ sau thì ngài nhập diệt. Tôi đọc bài kệ này suốt ngày thấy ngoài ý nghĩa uyên áo về đạo học còn cách dùng chữ như một tài thơ trác tuyệt.

ngột ngột bất tu thiện
đằng đằng bất tạo ác
tịch tịch đoạn kiến văn
đãng đãng tâm vô trước

đơ đơ không làm thiện
chằm chằm không làm ác
lặng lặng không thấy nghe
lâng lâng lòng không vướng

những điệp ngữ  /ngột ngột/đằng đằng/tịch tịch/đãng đãng/ thật hay và khó chuyển sang tiếng Việt. Tất cả các chữ /bất/đoạn/vô/ tôi đều chuyển thành /không/ để nhấn mạnh triết lý tánh không, nguyên là chủ đề phá chấp tuyệt đối của Kinh Kim Cang, và cũng là con đường giải thoát mà Lục Tổ nhằm trao gửi.

tường vũ anh thy

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Lục Tổ Huệ Năng: Kệ Vô Tướng




Người Việt Nam có câu:
thứ  nhất là tu tại gia
thứ nhì tu chợ thứ ba tu chùa
hoặc những câu như: thuốc đắng giã tật / lời thật mất lòng … tất cả đều có trong Kinh Pháp Bảo Đàn do Lục Tổ Huệ Năng thuyết. Đây là những lời nói thẳng, nói thật, không hề quảng cáo lôi kéo người ta vào bất cứ tôn giáo nào. Trong Phẩm Quyết Nghi III, Lục Tổ Huệ Năng nói: Hỡi các vị thiện tri thức, bằng muốn tu hành, tu ở nhà cũng được, không cần phải tu ở chùa. Ở nhà mà tu được, cũng ví như người ở đông phương lòng lành. Còn ở chùa mà tu chẳng nên thì cũng giống như người ở tây phương lòng ác. Giữ lòng thanh tịnh chính là tự tánh tây phương vậy.
Rồi Lục Tổ đọc bài
kệ vô tướng

Tâm bình hà lao trì giới
Hạnh trực hà dụng tu thiền
Ân tắc hiếu dưỡng phụ mẫu
Nghĩa tắc thượng hạ tương lân
Nhượng tắc tôn ti hòa mục
Nhẫn tắc chúng ác vô huyên
Nhược năng toản mộc xuất hỏa
Ứ nê định sinh hồng liên
Khổ khẩu đích thị lương dược
Nghịch nhĩ tất thị trung ngôn
Cải quá tất sanh trí huệ
Hộ đoản tâm nội phi hiền
Nhật dụng thường hành nhiêu ích
Thành đạo phi do thí tiền
Bồ đề chỉ hướng tâm mích
Hà lao hướng ngoại cầu huyền
Thính thuyết y thử tu hành
Thiên đường chỉ tại mục tiền

Diễn ngâm:
Kệ vô tướng

Lòng ngay chẳng cần giữ giới
Ý thẳng chẳng phải tu thiền
Công cha nghĩa mẹ đáp đền
Nhịn trên nhường dưới sâu bền có nhau
Nhường thì sẽ yên vui hòa thuận
Nhịn thì không xấu ác tới lui
Khoan gỗ lấy được lửa trời
Sen hồng vẫn mọc từ đời bùn đen
Thuốc có đắng mới mong hết bịnh
Lời có cay mới thức tỉnh người
Sửa lầm lỗi trí huệ sinh
Bo bo thành kiến khiến mình mất vui
Hàng ngày mở rộng lòng như nước
Đạo thành công không tốn một đồng
Bồ đề cốt ở tấc lòng
Tội chi vất vả tìm vòng ảo hư
Nghe pháp này tu hành sẽ thấy
Cửa thiên đường ngay trước mắt ta


tường vũ anh thy




Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

chửi vịt (mạ ạp)



Đọc Bồ Tùng Linh thấy có chuyện chửi vịt rất thú vị. Chuyện một kẻ ăn trộm vịt . Đem về ăn rồi khắp người mọc đầy lông vịt. Sợ quá, không biết làm sao. Đêm mơ thấy có người bảo phải để cho chủ vịt chửi một hồi mới rụng hết lông. Kẻ trộm bèn nói với chủ vịt: “ Vịt của ông là người ấy ăn trộm. Hắn sợ chửi lắm. Ông cứ chửi cho hắn chừa.” Chủ vịt bảo: “ Ai rỗi hơi chửi hạng người ti tiện ấy làm gì.” Túng thế, kẻ trộm đành kể thật. Chủ vịt bèn chửi mấy câu. Quả nhiên lông vịt mọc trên người kẻ trộm rụng hết.