điêu khắc

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

thơ xó bếp

bếp nhớ


nhớ ai rau héo cong cả lá
rổ rá ngồi bụm mắt làm thinh
trời hiu hiu gió nghe mùi muối
lúi húi tìm một sợi tóc vương


canh rau luộc


luộc rau muống trong nồi  nho nhỏ
nước xanh biêng biếc liếc môi cười
cà chua đỏ au lên trên má
đánh giấm cho vừa một bát canh


xào măng


anh xào mãi măng tươi trong chảo mỡ
ngỡ lòng mình đã đỡ xanh xao
tra mắm muối tiêu hành cho đỡ nhớ
mùi bay bay như mưa dạt hiên nhà


ăn chay


đậu rán vàng tươi như áo sư
chấm tương...tư ... tưởng bóng em về
sợi bún mềm như lòng đẫ vẫn
để ai đưa lối lạc rang vừng


tường vũ anh thy  13/4/11

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011

mưa đá ở san jose

gần trưa một cơn mưa đá
nửa đêm mưa đá rầm rầm
căn nhà tưởng sập
nhìn xem đá ướp đất tươi
tim ta không cần ướp đá
chỉ tẩm rượu em cũng đủ hồng




tường vũ anh thy 8/4/11

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

dấu chấm của cuộc chiến : 30-4-1975

. truyện ngắn


Tôi đi bên cạnh người đại tá. Con đường vắng, đầy hoa lá. Rừng núi Santa Cruz tràn ngập mùi ngái nồng của thiên nhiên đang bật nở. Gió xuân lành lạnh, dù nắng rất huy hoàng ở trên cao.
Chúng tôi ăn mặc chỉnh tề, đủ ấm, và đều đội mũ. Tôi bỏ hai tay trong túi, lững thững. Người đại tá bâng quơ ngắt những đóa hoa bên đường. Dường như mỗi đóa hoa ông đều đưa lên ngửi rất tận tình. Trong con-mắt-không-còn-trong của ông là một nỗi đắm đuối. Gờn gợn như những nếp nhăn ở hai bên thái dương.
-         Không hiểu sao tôi bỗng nhớ mấy đứa cháu quá anh ạ.
Tiếng ông trầm như lôi tôi về một thời rất xa ở miền Bắc. Tôi cũng ngắt một nụ hoa. Không ngửi. Chỉ nhìn rất sâu vào cánh và nhị. Tôi nói vu vơ đáp lời ông:
-         Trẻ con mới thật là những nụ hoa.
-         Thế còn đàn bà? Ông hỏi đùa.
-         Đàn bà là những cái lá. Tôi cười lớn.
Ông cười theo. Tôi nghe được tiếng vang của giọng cười tôi lớn quá, át cả tiếng cười rất ấm của ông. Tôi vội ngậm. Ngượng ngùng. Chúng tôi dừng bước giữa khoảng trời đất quang đãng. Cỏ xanh mời chúng tôi ngồi xuống. Đã quá trưa, sắp chiều. Tôi nói như ngâm nga:
-         Chẳng phải hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Ông ngả lưng trên cỏ. Co cánh tay làm gối. Nắng không chói nên mắt ông mở lớn. Khuôn mặt thư giãn. Tôi ngồi gần quá nên nhìn được những đường rãnh li ti chằng chịt trên da mặt ông. Mũi bầu bĩnh. Lông bên trong sợi nâu sợi trắng. Nhân trung sâu dài vừa phải. Cánh môi không đỏ. Nếu ông để râu thì sẽ thưa và không đẹp. Chân râu lấp lánh. Chắc ông sẽ thọ lắm. Trong một thoáng, tôi nghe được cả người ông đang thở hoang mang. Và một mùi vị lạ lùng, vừa thân vừa sơ. Mùi ấy từ thân thể ông thoang thoảng tỏa ra. Mùi của rừng, của núi, của đồng đất. Cộng với mùi rơm rạ củi gỗ pha lẫn nắng mưa. Hốt nhiên cả cánh đồng Miên-Việt ùa về theo ký ức. Đại đội chia làm ba, tiến vào một ngôi làng. Tiếng súng nổ chát chúa. Tôi không thấy khói. Chỉ ngửi thấy mùi chiến tranh. Người lính bên tôi kêu rú. Và ngã chúi. Máu vọt ra rất nhanh. Trong nhấp nháy đã đỏ thắm đầu và mặt hắn. Màng óc tôi như ống kính ghi chụp rất rõ khuôn mặt mếu máo máu đỏ. Màu da tái xanh rồi tím ngắt. Và điều không thể ngờ là, ngay lúc đó, dù tim tôi đang đập loạn, dù tai mắt tôi đang căng cứng đối phó với sự chết lảng vảng, tôi vẫn nghĩ đến câu thơ của Đoàn Phú Tứ màu thời gian không xanh, màu thời gian tím ngắt. Và gật gù một mình. Tôi kinh dị nhìn tôi. Nhìn xác thân người lính đang được tải đi. Nhìn đồng đội từng khuôn mặt lấp ló màu tím đang nghiêm trọng tiến quân. Cỏ cao gần thắt lưng. Rừng lá xanh khô khốc. Nắng đổ trên thân thể nhớp nháp mồ hôi. Hình như tôi đang mất rất nhiều cảm giác…
-         Trời thế này thì nhớ nhà thật.
Giọng ấm áp của người đại tá kéo giật tôi. Vang trong tiếng ông là những tiếng động thầm thì của dĩ vãng. Tôi hỏi:
-         Bây giờ, ở đây, anh nhớ nhất cái gì ?
-         Nhớ nhất vẫn là mấy đứa cháu.
Ông khẽ đáp, cả bằng ánh mắt nhìn trời. Tay ông đang giữ một bó hoa dại. Người đại tá ấy từng xông pha nhiều mặt trận. Là phóng viên chiến trường, tình cờ tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông thành đại diện chính phủ Hà Nội tiếp thu Sài Gòn.
Buổi tối hôm ấy gia đình tôi vừa tới đảo Guam. Không khí hoang mang hoảng hốt của những người di tản làm cái đảo này như đang bị luộc trong nước sôi của biển. Chúng tôi chụm đầu nghe radio tin tức quê nhà. Đến khi đài BBC loan: “…một tấm bia vừa dựng lên: Nơi An Nghỉ của chế độ Cộng Hòa sau 20 năm chiến đấu” thì hàng loạt tiếng khóc nấc vang lên. Sự thật lúc ấy muốn không khóc cũng không được. Nước mắt chan chứa, cứ cuồn cuộn tuôn ra…
-         Còn anh ? Anh nhớ gì ở quê nhà ?
Tiếng ông lại kéo giật tôi lần nữa. Nhưng lần này tôi nổi giận. Tôi toan nói mấy câu gắt gỏng khó chịu. Tiếng quạt động cơ rít lên gầm gừ. Chiếc trực thăng bốc chúng tôi lên thẳng trên cao. Tôi nhìn xuống Sài Gòn đang nhỏ bé dần trong nước mắt. Một tiếng kêu thất lạc ngoài đời hay trong tim khiến tôi nức nở.Cố gắng cười. Rồi tôi thấp giọng hỏi ông:
-         Chắc anh chẳng quên được cái ngày đầu tiên theo xe tăng húc sập cổng Dinh Độc Lập ? Thế lúc ấy anh có cảm giác gì? Anh có thể nhớ mà tả thực cho tôi nghe được không ?
Ông nghiêng mình nhìn tôi rồi lại ngả ra nhìn trời. Mắt ông nhắm lại. Tôi ngại gây tiếng động nên ngồi yên. Rất yên. Chờ đợi.
Tôi và ba người lính ngồi rất yên dưới hố đất thấp ven rừng. Rừng lá vẫn khô khan. Không gió. Những khẩu súng cũng rất yên. Chờ đợi. Lệnh của Đại Bàng. Nhưng bụng chúng tôi không yên. Nó réo lên vì đói. Một người ra mật hiệu sẽ nấu cơm. Hắn lúi húi bỏ gạo vào nón sắt. Tốn cả bi-đông nước mới đủ nấu. Tất cả không gây tiếng động. Trời và rừng vẫn im phăng phắc. Ba người chúng tôi ôm súng canh chừng. Lâu lắm. Tôi liếc thấy hắn nếm mấy hạt cơm. Mùi cơm thơm kỳ lạ, làm tỉnh mọi giác quan. Khuôn mặt hắn đỏ hồng và mếu máo vì khói lửa. Hắn vừa buột miệng: “chín rồi!” vừa bê nón sắt cơm đứng lên. Đoàng một cái! Tiếng nổ chát chúa bàng hoàng! Tiếng kêu nấc của hắn rất ngắn. Lập tức máu ứa loang trên mặt. Tràn vào nón sắt cơm còn ghì ôm trên ngực. Màu cơm trắng. Màu nón sắt xanh cứt ngựa. Màu đỏ máu tía. Cùng với hơi khói mờ đục tỏa bay. Trong hầm đất thấp. Giữa rừng khô thưa lá. Và tôi kịp nhận ra đàn kiến vẫn lặng lẽ đi thành hàng...
Đàn kiến dẫn tôi đến một ngôi làng heo hút. Chúng tôi đã trút vào làng không biết cơ man nào là đạn, lựu đạn, M79…Đến khi thận trọng tiến vào làng thì không thấy gì ngoài những đám cháy nhỏ rải rác. Không cả chó gà…Và bất ngờ ở một hầm đất tránh bom chúng tôi nghe được tiếng người vọng lên. Lập tức đám lính chĩa súng vào miệng hầm, tay cầm lựu đạn quát:” Ra ngay! Không thì chết!”Dưới hầm im lặng. Tôi len đến gần. Lính lại quát:’ Ra ngay! Một lần nữa: Ra ngay! Chúng tao bắn này!” Vẫn im lặng. Họ toan bắn. Tôi cản, và quên cả thận trọng cơ bản, ghé sát miệng hầm nói từ tốn:” Các người nên ra vì nếu không sẽ chết hết. Vì lựu đạn sẽ ném xuống. Không còn cách nào khác đâu. Ra là sống!” Im lặng. Rồi rất từ từ, chúng tôi thấy người chui ra. Lần lượt. Toàn trẻ em, phụ nữ, một ông già, tất cả đến tám mạng! Họ đều run rẩy, hoang mang ngơ ngác! Tôi không dám nhìn họ lâu. Suýt nữa, chúng tôi chỉ là những kẻ giết người !
-         Thực tình thì bấy giờ mình rất đói, và rất khát.
Giọng ông chùng và thân mật. Tôi vội thu ánh mắt miên man. Thật sự nhìn ông. Ông nói tiếp:
-         Anh bảo, mấy ngày đi bộ dài như thế. Mệt lắm chứ!
Tiếng “chứ” kéo dài và hắt cao. Nửa như phân trần. Tôi tần ngần nhìn cây cỏ. Con người ấy, mươi năm trước tôi thấy trên kênh truyền hình PBS trả lời những câu phỏng vấn; loạt Toàn Bộ Cuộc Chiến Tranh Việt Nam của Stanley Karnow. Chiếc xe tăng lừng lững húc đổ cổng Dinh Độc Lập Sài Gòn. Còn trong vụ Thiên An Môn 1989 ở Trung Hoa, chiếc xe tăng bị một thanh niên đứng cản. Hai hình ảnh cùng xuất hiện trong màng óc tôi.
Đại đội đi theo sát những chiếc xe tăng. Bánh xích sắt nghiến nát mặt đất. Cỏ khoai ngô sắn bắn tung tóe. Tầm đạn AK khi cao khi thấp vẫn trả lời loạng choạng. Tôi thấy bóng người thấp thoáng ở rất xa. Lập tức hàng loạt đạn M16 tuôn nổ như bắp rang. Một chiếc tăng gầm rú phóng lên như trâu điên. Những bụi tre gai quằn quại đổ. Đất đỏ quắn lại như những mảnh thịt vụn. Nhưng rốt cuộc chúng tôi không tìm thấy một vệt máu nào.
Chống tay ngồi dậy, gió núi lùa theo bao nhiêu mùi hoa lá, người đại tá  khều tay tôi, giọng tâm sự:
-         Anh biết không. Khi vào đến cổng Dinh Độc Lập tôi mới thấy rằng mình đã quá mệt. Mặc kệ hết! Tôi nằm bừa xuống cỏ. Ngửa nhìn trời. Qua tàng lá me hay phượng vĩ gì đó, tôi thấy trời xanh lơ. Và những cụm mây trắng lững lờ. Trong đầu tôi chỉ có một ý tưởng là :“ À! Chiến tranh đã chấm dứt!” Anh không thể nào hiểu được chúng tôi lúc đó. Chiến tranh đã chấm dứt!!! Nghĩa là…từ đây…chúng tôi sẽ…không còn đói khát – cực khổ - và…day dứt !
Khuôn mặt ông biểu lộ sự thành thực trong khi nói. Tôi nhìn và tôi tin. Chúng tôi từng đi bộ. Ba lô, đạn dược, và ngay cả trang phục nặng nề. Nắng hoặc mưa. Rừng núi sình lầy hay đồng ruộng. Đoàn quân phải bước theo lệnh. Mặc kệ phổi ai, bụng ai, và tim ai dẫu thế nào! Đã nhiều lần tôi không điều khiển được đôi chân. Miệng há hốc. Đầu óc rỗng toang. Chẳng biết cao hay thấp. Chỉ muốn nằm thẳng cẳng! Ra sao thì ra! Thì vừa may có lệnh ngừng. Tôi còn cố đứng. Cố nhìn chung quanh. Cố làm ra vẻ bình tĩnh, ra vẻ chu đáo cẩn thận, trước khi lăn quay xuống đất hay cỏ. Con người tôi thường chống chọi với bản năng. Thành ra trong cuộc chiến, tôi luôn phải chiến đấu song trùng. Nhưng dù cố gắng đến đâu tôi vẫn kém xa một người anh họ. Anh cùng binh chủng, và tác chiến như tôi. Thế mà suốt thời gian ấy anh vẫn học và viết cả dưới giao thông hào để hoàn tất luận án tiến sĩ. Hồi đó chúng tôi đang độ tuổi hai mươi – ngạt ngào lý tưởng, và …tràn đầy tự phụ! Vì kém ngoại ngữ, tôi bèn lập dị bằng cách học chữ Nho. Thế là trong ba lô, trong túi quần tôi đầy chữ Nho. Học nhồi học nhét những nét xổ nét móc chỉ để bớt mặc cảm về sự ít học của mình. Gặp anh , tôi  được dịp khoe kiến thức cổ văn . Dĩ nhiên để nhận lời khen ngợi. Hỡi ơi! Sang Mỹ mấy năm sau tôi mới được tin anh bị tù, rồi bị bắn chết ngay chân rào trại giam! Anh từng viết lên tường, bên giường ngủ: “Sống để trở thành Linh Hồn Việt Nam”. Cuối tháng ba năm 1975, chúng tôi còn chở nhau trên chiếc vélo solex đen, giữa Sài Gòn, để ngắm “thành phố đang đi vào lịch sử”, lời anh tiên đoán. Chiếc vélo solex đen mong manh của chúng tôi nếu húc vào cổng Dinh Độc Lập thì chắc chắn xe cong đổ chứ cổng dinh vẫn …thản nhiên. Tôi chắc rằng khi chiếc xe tăng ủi sập cổng Dinh Độc Lập thì đoàn quân cộng sản hả hê reo hò. Họ hò reo trên bao nỗi đớn đau của người bại trận. Chuyện ấy từng lập lại mãi hoài trong lịch sử. Biết thế nhưng tôi vẫn tức tối hỏi quạu:
-         Đã thế sao các anh không từ tốn mở cổng Dinh đi vào ? Làm oai làm tướng húc đổ cổng để làm gì? Hành động ấy có khác gì quân thảo khấu ?
-         Anh thừa biết mà. Lính tráng họ hứng lên thì có trời mà cản. Ông khoát tay cười xòa.
Tôi đứng bật lên. Cũng có hơi bất lịch sự với ông. Nhưng trong tôi đang vừa sôi nổi tức tối và buồn bã. Tôi bước hụt hẫng bơ vơ. Trời không có khói. Chỉ có mây dàn hàng ngang. Và hơi thở tôi dồn nén theo hàng dọc. Đời người mấy khi hơi thở được tương thông. Có lúc ta thở dài. Đôi khi ta thở ngắn. Nhiều khi ta thở không ra hơi và… nấc cục. Rồi một ngày đẹp trời, ta …không thở nữa!
Tháng 4 năm 1971, tôi bỏ ăn bỏ ngủ vào Bệnh Viện Cộng Hòa ở Gò Vấp nhìn bạn tôi nằm…thở. Anh được tải thương từ chiến trường Cambodia về vì mảnh đạn B40 lọt xuống phổi. Người ta đục ngực, gắn ống plastic để nước dơ và mủ trong phổi có chỗ thoát ra. Anh phải thở bằng ống dưỡng khí. Tuy không nói được, nhưng mắt anh hiểu, và nhếch cười khi nhìn tôi. Một người bạn khác viết đùa hai chữ  TỊNH KHẨU để trước ngực anh. Ngực anh vẫn đều đặn nhô lên thụp xuống. Bẩy đêm sau, tôi một mình đăm đăm theo dõi ngực anh. Bỗng thấy ngực anh thụp xuống rồi…không nhô lên nữa! Tim tôi rối loạn như nghe những tràng đạn AK xối xả. Anh chết trẻ quá, mới vừa tuổi 23. Trong cuộc chiến, bấy giờ chúng tôi chỉ là những thanh niên hăng say lý tưởng và …ngờ nghệch. Chiến tranh làm cái chết mất đi vẻ thần bí và lãng mạn. Nó vội vã, bất ngờ, trắng trợn và tàn nhẫn. Nó dựng đứng trước mặt sau lưng. Nó chặn đứng mọi lối thoát của đời người.
Bao nhiêu năm sau cuộc chiến, ở Mỹ tôi liên lạc được với người bạn cũ cùng đơn vị. Anh đã bị cùm kẹp tra tấn hơn 10 năm ở Việt Bắc. Tội của anh là đeo lon đại úy và làm thơ. Thân anh rũ liệt. Nửa người tê và phù thủng. Anh nói qua ống nghe:”Tao biết Phật Chúa dạy từ bi bác ái. Nhưng xin lỗi. Để kiếp sau. Kiếp này tao không thể quên được hận thù.” Tôi nghe tê tái quá, chỉ lặng thinh, tôn trọng nỗi đau của anh. Anh là một nhà thơ, thỉnh thoảng mới viết văn. Hồi đó chúng tôi vừa chiến đấu vừa chơi trò đố thơ với nhau để giải trí, hoặc để…bớt sợ. Trò chơi đơn giản: người đố đọc một chữ như “đau”.Kẻ kia ráng tìm ra câu thơ có chữ ấy, với tên bài, tên tác giả. Chỉ có thế mà chúng tôi chơi dưới giao thông hào, trên võng hành quân, và ngay cả trong lúc …đánh trận! Y hệt những đứa trẻ con nhà nghèo say mê chơi nút chai và …lõi cuộn chỉ!
Tôi nghe được tiếng ông đứng lên. Hơi nặng nhọc. Tôi dừng lại, nhìn bụi cây hoa trắng. Mùi ông mỗi lúc mỗi gần. Tiếng ông chợt cất lên:
-         Mình không biết anh có ở quân đội không. Chiến tranh nó kỳ cục lăm! Thê thảm, bất công, man rợ, đã đành. Nhưng cái đáng sợ nhất là nó làm ta day dứt! Trong cuộc chiến tiếp theo năm 1979 ở Cambodia, nó khủng khiếp ngoài sức tưởng tượng. Đồng thời nó day dứt quá sức chịu đựng.
-         Chẳng hạn như ? Tôi cố lạnh lùng hỏi.
Tay ông hái thêm đóa hoa trắng, nhỏ giọng:
-         Chẳng hạn những xác phụ nữ Việt bị lính Miên hiếp rồi cho nổ nát âm hộ…
Tôi lại cáu:
-         Tôi đọc báo hồi đó, đảng và nhà nước các ông la toáng lên vì những chuyện ấy rồi. Nhưng tình cờ sau này tôi quen một thanh niên giang hồ. Anh ta từng dự trận ở Cambodia cuối năm 1978, đầu năm1979. Anh ta bảo đoàn quân phần lớn là trai trẻ tuổi từ 16 đến 30. Họ tình nguyện hoặc bị cưỡng bách. Anh ta 17 tuổi, vì túng quẫn nên tình nguyện. Và cũng chuyện khát máu man rợ ấy từ đoàn quân Việt, họ điên cuồng lùng bắt đàn bà Miên. Họ hiếp xong, hoặc bắn chết, hoặc gài thêm lựu đạn cho nổ tung âm vật! Anh ta tâm sự: “Chẳng hiểu sao bấy giờ không ai thấy kinh tởm. Tụi em hành động như lên cơn điên. Như ma làm. Để sau này, cứ chợp mắt là em thấy máu. Hối hận vô ích anh ạ. Chả có cách nào tha thứ cho sự dã man tàn bạo lúc ấy.” Anh ta tình cờ lưu lạc sang tới Mỹ. Nửa điên nửa dại. Sau tôi nghe nói anh ta đã vào hẳn nhà thương điên. Thành ra chuyện anh biết chỉ có một mặt...
Ông gật gù yên lặng. Tôi tự hỏi: Ta có nên tự ti hay tự tôn trong các cuộc chiến của ta vừa qua không ? Có nên kể lể với các thế hệ sau không? Có nên bào chữa rằng tự vệ là bản năng sinh tồn không? Có nên thần thánh hóa, lãng mạn hóa,    hay phóng đại cuộc chiến nữa không? Tôi định nói:” Thôi anh ạ. Dù gì cỏ xanh cũng đã phủ kín những nấm mồ. Phủ kín những hố bom lỗ đạn, những xác máy bay, xe tăng…như thể mặt đất bị thương, giờ đang kéo da non. Trái đất này đang cần rất nhiều màu xanh. Anh từng trương cờ đỏ, húc đổ cổng tường. Rồi anh nằm trên cỏ xanh. Nhìn lên trời xanh. Mơ mộng về cõi xanh. Chắc lòng anh rồi sẽ …xanh.” Nhưng nhìn kỹ lại ông, trong không gian rực rỡ nắng vàng, và rừng núi Santa Cruz  xanh ngát, tôi …bâng khuâng! Trong khoảnh khắc, tất cả bỗng xa vắng vô cùng...

tường vũ anh thy  san jose 1992
Ghi chú: Tôi viết truyện này hoàn toàn dựa vào những sự có thật, sau chuyến đi chơi loanh quanh với người bạn bác sĩ và người đại tá từ Pháp sang. Chúng tôi hội ngộ vào tháng 4/1992. Lúc đầu truyện có tên Mystery Spot, một địa điểm du lịch ở Santa Cruz, California, Hoa Kỳ; đã đăng trên tạp chí Khởi Hành số 18-tháng 4/1998. Nay đọc lại bản thảo viết tay, tôi tự đánh máy, sửa chữa và đổi tên cho đúng ý nghĩa hơn. tvat 26/3/11


Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

uống rượu ba trường phái



kể ra uống rượu có rất nhiều trường phái. Tác giả Bồ Tùng Linh (1640-1715)   trong Liêu Trai Chí Dị viết truyện con sâu rượu (tửu trùng), đại ý: có một người họ Lưu ở Sơn Tây uống rượu như hũ chìm mà không bao giờ say. Lại có một nhà sư gặp bảo:” Đó là bệnh, có thể chữa.” Bèn trói chân tay Lưu, bắt nằm sấp dưới nắng. Nhà sư đặt thau rượu ngon cách đầu Lưu chừng gang tay. Rượu bay sực nức! Nắng nóng làm khô khát quá sức! Một lúc thì oằn oại cồn cào, trong cổ ngứa ngáy rồi ộc ra một con sâu bay vào thau rượu. Nhà sư cởi trói cho Lưu, cùng đến xem con sâu đỏ hon hỏn to bằng ngón tay đang ngo ngoe uống rượu! Sâu này bỏ trong hũ, cứ đổ nước vào là thành rượu ngon! (viết đến đây lại nhớ trong Kinh Thánh chuyện Chúa Jesus thực hiện phép lạ đầu tiên : biến nước lã thành rượu ở Cana. Chắc Chúa không cần con sâu rượu này?) Bồ Tùng Linh không đả động gì đến chuyện sau khi bắt con sâu rượu thì anh chàng kia ra sao. Chả lẽ anh ta thôi uống rượu? Hoặc hễ uống thì say? Nhưng dù sao trước đó anh ta thuộc trường phái “sâu rượu”; uống tì tì hết ngày này sang ngày khác mà không say!
Người phản đối mạnh mẽ “phái sâu rượu” là Cao Xuân Huy. Sinh thời anh thường bảo:”Uống rượu mà không say thì uống làm cái đếch gì!” Vì thế cuộc rượu nào anh cũng say. Mà hễ say là anh ngủ khì. Nhìn anh ngủ co hai chân vẫn đi giầy, tay thế thủ, rõ là một người lính dễ thương vô cùng! Quí vị nào không tin cứ hỏi Lê Giang Trần thì biết. Thế là ta có trường phái “ uống rượu phải cho say”.
Lại có người phản đối kịch liệt là Cao Đông Khánh. Anh bảo:”Uống rượu mà say thì làm gì còn cơ hội uống thâu đêm suốt sáng với người ta?” Cho nên anh cứ lai rai uống mãi. Vừa uống vừa đọc thơ. Nếu để ý kỹ thì hình như anh đọc thơ nhiều hơn uống rượu. Mà hễ cứ rượu thơ là mặt mũi anh đầm đìa mồ hôi như đang tắm. Tôi cả quyết là anh không có “con sâu rượu”, bằng cớ là anh chỉ say sau khi Cao Xuân Huy say. Tuy nhiên anh vẫn lập ra trường phái “uống rượu không được say”.
Lại có người khác không phản đối gì hai trường phái trên mà chủ trương:”uống rượu để bay!” Đó là anh Phạm Công Thiện. Anh uống chậm chãi dai dẳng rồi bay vào cõi “nói năng mơ mòng”. Và càng nói, anh càng uống ,đến ...hoang vu! Tuy không “như hũ chìm”, nhưng phải công nhận là anh “trụ” được lâu suốt cuộc rượu mà không rơi xuống đất!
Bài này chỉ viết về những “tửu đồ” đã bỏ chúng ta, rủ nhau đi uống rượu ở một nơi khác.

tường vũ anh thy 30/3/11

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

vang bóng


hai đỉnh núi hai người đứng gọi
tiếng rừng xanh vang vọng rừng xanh
trong hoa đốm trời cao lồng lộng
lời chiêm bao vang dội chiêm bao
giữa cuộc đời mỉm cười miên viễn
tiễn người đi biền biệt người đi
hỡi ơi một giải ngân hà
đêm đêm hiu quạnh biết là nhớ ai
ai vẫn nhớ và ai không muốn nhớ
nhớ chăng ai
ai nhớ mà mong
chong đèn 
đèn hắt cong cong
bóng vang trước gió
gió đong bóng người


tường Vũ anh thy 28/3/11

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

LÁ


Lời dẫn: Gần đây người ta tìm được một chiếc lá nằm dưới các lớp bùn ở đáy hồ nước thuộc tiểu bang Idaho, Hoa Kỳ. Các khoa học gia và các nhà khảo cổ dùng các phương pháp đo định tuổi tân tiến như chất DNA..đã khẳng định rằng chiếc lá đó đã có từ 17 triệu năm! Lá hiện còn giữ màu xanh.
Tưởng tượng , từ 17 triệu năm trước, khi chưa có mặt con người, đến bây giờ 1990, thế giới lúc nhúc mấy tỉ người đang sôi nổi chuyện tư bản, vô sản, tự do, dân chủ…và vũ khí hạt nhân, chiếc lá vẫn âm thầm có mặt. Mười năm tới,với gần 10 tỉ sinh mạng thế giới sẽ bước vào thế kỷ 21, chiếc lá cũng bước theo. Liệu những đề tài chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội …có rơi rớt bớt đi để giữ một màu xanh cho trái đất.
Bài thơ “ Lá” tôi làm từ những cảm xúc đó, và còn nhớ từng đọc tập thơ Lá Cỏ ( Leaves of Grass )của  Walt  Whitman, tập Lá Hoa Cồn của Bùi Giáng, và mới đây tập Lá của Văn Cao, Hà Nội xuất bản năm 1989.

một chiếc lá còn xanh
tìm thấy dưới đáy hồ ở Idaho
từ mười bẩy triệu năm trước
lá sẽ bước cùng chúng ta
vào những năm 2000

mười bẩy triệu năm qua
ánh sáng vẫn xanh
lá vẫn rưng rưng ngập nước
như môi em còn ươn ướt
vẫn lướt  trôi trong mưa nắng cuộc đời
chiếc lá thật tình cờ
thật bất ngờ gặp gỡ
mà mười bảy triệu năm
vẫn thở thì thầm
dưới đáy hồ ở Idaho
hay dưới đáy Hồ Gươm Hà Nội

không có gì vội vã
sáng nay lá thổi lớn trong tôi
như gió đã thổi khắp Âu Châu
gió nổi từ Châu Ấ
thổi luồn qua Úc Mỹ tới Châu Phi
tôi chẳng hồ nghi
có con rùa con mới 4000 tuổỉ
ở dưới đáy Hồ Gươm Hà Nội
nghểnh đầu lên muốn lội
khi gió dào dạt từ bụi măng tre
gió phần phật ngoài khóm chuối

gió thổi vào bẹ cau
em đi qua cầu
gió thổi tóc bay
bàn tay em không che nổi gió
nên trái tim em bên đó phập phồng
mười bảy triệu năm giữa bụi hồng
lá đợi chờ giọt nước mắt ai
để được đầu thai
làm bông hoa thế kỷ

chiếc lá vô cùng
chút màu xanh còn lại
trên mái chùa mềm mại ở Cao Miên
trên mu con rùa ở Hồ Gươm Hà Nôi
chút màu xanh vô tội
muốn hội ngộ tương lai
cùng những ai
muốn làm xanh trái đất

đã mười bảy triệu năm qua
sáng nay bỗng có một gã khờ
lang thang phố thị lờ mờ nhớ nhung

tường vũ anh thy
san jose, 4-1990 cho Ngày Của Trái Đất (earth day)

(bài thơ Lá, đăng lần đầu trên tạp chí Thời Tập năm 1990 ở quận Cam, California Hoa Kỳ, sau đó đăng trong tuyển tập 20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, nxb Đại Nam 1995,California Hoa Kỳ)







Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

CAO BÁ QUÁT: thơ vẫn bay ...



  

Thế là sau những năm tháng tù đày cùng quẫn, những năm tháng phiêu dạt tha hương, Cao Bá Quát đã hình thành một đường gươm tuyệt thế: đó là Mai Hoa Thi Kiếm. Kiếm pháp này lấy căn bản ở chữ Vô, biến thế sang Hữu, và hiển thị ở Sinh. Từ Vô sang Hữu, lưỡi kiếm nhấp nhô như sóng mà không đóng lại ở một góc độ nào. Kiếm động thì người động, kiếm tĩnh thì người tĩnh. Người và kiếm vừa có thể phân biệt, vừa có thể không phân biệt. Như giòng sông đang chảy cuồn cuộn giữa khoảng không bao la. Trời mây in đáy nước. Đáy nước vọng trời mây. Nước chảy thì mây trôi. Giữa cái hữu hạn và vô hạn hốt nhiên cùng ríu rít. Bởi thế ông mới làm được câu trường giang như kiếm lập thiên thanh (giòng sông gươm lấp lánh trời xanh). Nước ở đâu trời ở đó. Giữa Có và Không, vừa có thể phân biệt, vừa có thể không phân biệt. Nước chảy đến đâu, lập tức cỏ cây hoa lá côn trùng nảy sinh ở đó.
Đầu mùa thu năm 1843, từ Đà Nẵng, ông về thăm nhà cửa bố mẹ vợ con làng xã. Cuộc trở về này không phải là một, nhưng lại là cuộc trở về quan trọng trong ý nghĩa về nguồn. Rất tình cờ ông nhặt được cuốn truyện dài bằng thơ lục bát ở nhà người hàng xóm. Tên truyện là Hoa Tiên, tác giả là Nguyễn Huy Tự. Tuy chỉ là  chuyện tình dựa theo một bản ca của Trung Hoa, nhưng Cao Bá Quát lại nhìn ra cái tinh túy của thi ca Việt Nam. ( cũng như trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du ). Truyện bắt đầu từ việc ân ái riêng tư của vợ chồng; rồi đến đạo cha con; nghĩa vua tôi; mối giao tình thân thiết giữa bạn bè; lòng thương yêu anh chị em trong nhà. Lớn thì triều đình nhà nước, kế sách binh cơ, khen thưởng khuyến khích việc trung nghĩa tiết liệt. Nhỏ thì chuyện người việc đời, cả đến cỏ cây khí hậu thời tiết. Lời văn mới lạ, ý nghĩa đoan trang. ( Kỳ vi thuyết dã, khởi ư phối thất chi tế, tình ái hiệp nật chi tư, nhi đạt ư phụ tử chi luân; chủ thần chi nghĩa; bằng hữu thiết tư chi nhã; huynh đệ tương hảo chi tình. Đại nhi triều đình, binh mưu, bao trung khuyến tiết chi điển. Tiểu nhi nhân tình thế thái, phong khí thảo mộc chi vi. Kỳ văn kỳ, kỳ nghĩa chính.) Đó là nhận xét đầu tiên của ông. Lúc đó lòng ông đang chan chứa bao nhiêu mối u tình. Lớn, cũng những chuyện triều đình đất nước. Đất nước ông đang rối loạn, lại có nguy cơ bị ngoại xâm bởi người phương Tây. Nhỏ, thì chuyện mình chuyện nhà. Mình thì tù đày, lang thang thất nghiệp. Nhà thì dọn, con chết, chị chết. Hoàn cảnh bi thương đen tối, nhưng lòng ông lại rất trong sáng hào sảng. Ông viết:” Sự đau khổ của con người không ngoài một chữ tình, mà cái khó trong đời là duyên gặp gỡ. Từ đó suy ra tính tới, thì cái lý trong thiên hạ đã thông được quá nửa rồi.Vì thế ta có mối cảm đặc biệt với truyện Hoa Tiên.    (Phù nhân mạc khổ vu tình, nhi mạc nan vu ngộ, dẫn nhi thân chi,xúc loại nhi trường chi, tắc thiên hạ chi lý, tri quá bán hĩ. Ngô ư Hoa Tiên lương hữu cảm yên.)
Cái mối cảm đặc biệt với truyện Hoa Tiên không hẳn chỉ có vậy. Bởi vì mở đầu cho bài tựa truyện Hoa Tiên, ông đã đặt một câu hỏi lớn: “Sống trên đất nước Việt Nam này ta có thể bỏ được chữ quốc ngữ của ta không?” Câu hỏi mà ai cũng phải đáp: “ Không bỏ được” ( Bất khả dã!) Ôi đã không bỏ được chữ quốc ngữ thì những truyện viết bằng quốc ngữ như Hoa Tiên, Kim Vân Kiều, ta có bỏ được không?( Độc quốc ngữ dã, Kim Vân Kiều, Hoa Tiên, chi thư khả phế hồ? Dĩ nhiên ta cũng không thể nào bỏ được. Làm sao bỏ được khi đó là những tác phẩm lớn, viết bằng tim óc của người xưa! Làm sao bỏ được khi đó là những tác phẩm viết bằng chính lời nói của nước ta, góp công tô chuốt nền văn chương dân tộc riêng biệt của ta! “ Nước Việt ta, từ sau Hàn Thuyên, các tác gia mọc lên như rừng: nào thơ cổ cận của Ôn Như Hầu, kích thước ngang với Đỗ Phủ thời Đường; Nào điệu cung từ của Nguyễn Hữu Chỉnh dìu dặt như thời Hán, Ngụy…Còn như về văn chương tiểu thuyết, cho đến nay ta mới thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều là bậc nhất.” (Ngã quốc Hàn Thuyên chi hậu, tác gia lâm lập: Ôn Như cổ cận, quy mô Thiếu Lăng; Bằng Quận Công cung từ, trì sậu: Hán, Ngụy. Chí vu chuyện khúc chi công, ngô phục đắc Hoa Tiên, Kim Vân Kiều yên.)
Thế thì cái nhìn và cái mộng của Cao Bá Quát đã là một nhịp liên tục từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, ông đã thấy sự cần thiết phải có của văn chương dân tộc ghi bằng quốc ngữ. Và ông cũng đã tự hào về nền văn chương dân tộc ấy. Ta có thể đặt câu hỏi: Đã thế sao Cao Bá Quát không làm thơ bằng quốc ngữ? Xin thưa: những bài hát nói ông đã thử làm, vốn cũng đâu phải là tầm thường như ta đã thấy. Nhưng trước lịch sử văn học dân tộc, Cao Bá Quát cảm được sự thiêng liêng của hồn sông núi, nên ông hết sức rụt rè khiêm tốn: Dùng quốc ngữ làm văn chương thì ta chưa dám ( Dĩ quốc ngữ vi văn chương, ngô vị cảm dã.) Cho nên ông chỉ dám dùng văn chương để xem quốc ngữ mà thôi ( Câu dĩ văn chương quan quốc ngữ, tắc ngô thiết hữu thủ yên.) Đấy là bởi ông hết sức thành thật. Tác phẩm của người xưa sừng sững, ông tự liệu mình không thể vượt qua. ( Cái học từ chương lệ thuộc Trung Hoa của triều đình nhà Nguyễn bấy giờ đã khép chặt mọi cửa ngõ của sĩ tử Việt Nam.) Nhưng lòng ông vừa cảm phục vừa hãnh diện, lại vừa ngứa ngáy háo hức muốn la lớn hét to cho thiên hạ cùng cảm phục, cùng hãnh diện với ông về văn chương đân tộc. Tâm tình ấy thật khác hẳn thái độ ngạo mạn khinh bỉ mà người ta đã gán cho ông !
Ôi người đời đã hiểu khía cạnh khinh thế ngạo vật của ông theo kiểu người đời. Bởi vì người đời xem Hoa Tiên, Kim Vân Kiều là những cuốn dâm thư, lẳng lơ, gian dối! Họ đâu có buồn xem cho hết ngọn ngành. Thời đại Cao Bá Quát, người ta đua nhau làm thơ chữ Hán để ngâm vịnh tâng bốc nhau. Thi xã, hội thơ… mọc lên như nấm. Bao nhiêu thơ xưa, điển cũ bên Tầu được đem ra làm khuôn vàng thước ngọc mà trích, mà họa, mà nhái…Chúng ta sẽ được Cao Bá Quát phân tích việc này trong bài tựa tập thơ của Tùng Thiện Vương. Ta cũng chắc rằng cái không khí văn chương tháp ngà lai căng và vong bản nhốn nháo thời đó đã làm ông có lần phải bịt mũi :
                      Ngán cho cái mũi vô duyên
                Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An
Trong bài tựa truyện Hoa Tiên, ông viết: “ Gần đây, những kẻ khinh bạc, đem Hoa Tiên ra làm chuyện đầu môi chót lưỡi, những người cầm bút không xem xét ngọn ngành, vội cho là lời văn dâm đãng, khúc lẳng lơ, đáng buồn biết bao”( Cận thế khinh bạc, chi đồ, tư vi thoại bính, thao cô giả vãng vãng bất sát, ủy vi dâm từ, diễm khúc, khả bi dã phù!)
Bởi vì người ta lúc ấy có mặc cảm làm văn thơ bằng quốc ngữ là quê mùa cục mịch, sao bằng viết chữ Hán, vẻ trí thức cao sang! Cũng tựa như gần đây, người ta rập theo Tây theo Mỹ. Nói hay viết mà không có tí Tây Mỹ vào thì bị xem là nhà quê, thất học. Có kẻ còn công khai bài bác văn chương Việt Nam; ca tụng văn học ngoại quốc. Ta chẳng lạ gì chuyện đó. Bởi có thế mới thấy được lòng người và tình người.
Trở lại vấn đề quốc ngữ và truyện Hoa Tiên, Kim Vân Kiều cùng với nền văn chương dân tộc, Cao Bá Quát viết tiếp: “Nếu chỉ xem quốc ngữ là quốc ngữ thế thôi thì hai cuốn Hoa Tiên và Kim Vân Kiều, có hay không, cũng không thành vấn đề nữa. Nhưng nếu muốn làm cho rực rỡ nền văn chương dân tộc của ta, làm cho rõ thế nào là văn chương dân tộc của ta, thì quý vị yêu văn sẽ phải nghĩ gì ? Làm gì?” Câu hỏi này, chính ông đã đáp từ đầu khi ông tâm sự:” Ta bị về vườn đã lâu, ngẫu nhiên thấy cuốn truyện Hoa Tiên trong sọt sách cũ của ông hàng xóm, bèn lấy đọc. Trong lúc buồn bã cùng quẫn, gặp cuốn sách này thật chẳng khác nào tìm được vật báu quí giá. Ta mạo muội kiểm điểm từng trang, muốn sửa vài chỗ sai lầm, bớt vài đoạn dài dòng, để thành tác phẩm hoàn mỹ. Nhưng bỗng có việc gấp, phải đi xa, đành chịu bỏ dở dang.” Việc nhuận cuốn Hoa Tiên bị bỏ dở, thì ý ông muốn khi in ra sẽ được các bạn yêu văn tiếp ta sắc y tô điểm, tiếp tay phổ biến.
Câu cuối cùng của bài tựa cũng là lời tuyên dương rực rỡ nhất về thi ca:” Kim Vân Kiều đạt thế ngữ, Hoa Tiên tắc cảnh thế ngữ dã” (Truyện Kiều là tiếng nói hiểu đời, Hoa Tiên là tiếng nói răn đời.)
Hốt nhiên cả một trời thơ dào dạt, lời ca dao, tiếng ru, điệu hò, bài ca phường vải, khúc hát quan họ, bản chèo…những chuyện cổ tích xa xưa, chuyện sử diễn ca tráng lệ, cuộc đời mưa nắng gió sương, tình đất, lũy tre, nghĩa quê, lòng biển…tất cả đều lồng lộng bay giữa hồn thiêng sông núi…Thơ sẽ phải bay giữa hồn thiêng sông núi! Và chỉ có hồn thiêng sông núi mới đủ từ uy giữ cho thơ không lạc lối mê đường.
Đó lả tất cả nguồn cảm hứng, tâm tình trầm trọng, mộng ước ban sơ, mà Cao Bá Quát đã trao thân gửi phận cho Thơ, đã trân trọng đặt cho Thơ một sứ mệnh vừa thiêng liêng vừa hào hùng.
 tường vũ anh thy 1982 ( Trích trong Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi, Ức Trai xuất bản 1985)